Bài số 1 📽️ 

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MỘT

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (11 giờ khuya)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THẦY mừng mỗi con có bổn-phận về Thiên-lý vận hành Thời Cơ Quân Phối, hiện giờ lý nhiệm năng hoằng, chung nhau trong lớp học hữu trách, ráng định-tâm nghe lời Thầy ban lời dạy chỉ đây mỗi con.

THI

NGỌC là khí sáng để che đời
HOÀNG Chủ Càn Khôn lý hiển Trời
ĐẠI trác Tam-nguơn thông vận mạng
ĐẾ quyền Độc-nhứt Luật Thiên thời.

Nầy mỗi trẻ, lớp học nầy là lớp học gọi Huệ-Luật Lưu-thông. Vậy chung mỗi con đủ Đạo Thầy chọn phong sắp phận hãy vưng lấy lời Thầy thiện  hành đặng làm gương mẫu đây mỗi con, là an lòng thận-độc trác-trau Thiên-lý, cố kiên chánh-giác  Qui-Điều, gọi Đạo-Đức Qui-Điều, Tam-Thiên Giác-thế, gọi Huệ-Luật Diệu-Hành đó trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MỘT

Bổn phận Ngũ-Hành, lý vận chuyển lưu thông về Thiên-lý. Thời-Quân, là Nhựt ký Dạ quang, Thời  tri Quân lập. Tứ-Phối, trác Đức thị Thiên, trí nhơn  điện hậu. Thập-Nhị Nguyệt-Tướng là: Đạo-pháp  thoát thân, đãi chiêu Hiền-sĩ, thâu lý hiển truyền. Trong đây vưng lời hành y nhứt Luật tôn nghiêm rạng rỡ đó trẻ.

1. là: Phận người tu trước hết phải hạ mình độ chúng, muốn vẹn phận muôn điều cẩn thận Nhẫn Nhiêu, tha lỗi người tức xá tội mình.

2. là: Phận người tu cần tế-độ chúng-sanh, là thương mến đồng nhau, phải xem người trước mình, phải xem Đạo trước mình, gọi ta hữu đức. Phận người tu phải cho nhiều đức mới nên người Đạo-đức, đủ Đạo-đức mới tròn chơn, Đạo mới thạnh lý. Vậy mới gọi tròn Căn-tín. Bổn phận tu đừng rời Tâm-lý, Tâm hữu định gọi Tâm tri Lý, rõ Tâm-lý vận chuyển đổi dữ về lành, đổi khó hòa tâm, đổi tư  đồng thể. Muốn hạ mình phải thọ trí pháp thân, tự thân thường chuyển, tâm tri Đạo-phận. Đó mới vẹn lý lưu thông.

3. Phận người tu, phải đủ Oai, Ân, Tế, Trị là tự phận xét phận, ta đại-lực trị tâm-phàm, gọi dùng  Thiên-oai trị Nhơn-ngã đó là Thánh. Tự xét phận là người tu phải nối chí Háo-sanh, dùng Ân Tế-thế, gọi  phất hết tội lỗi xưa của người, ấy là phá cái án luân-hồi của mình vậy.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng  Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe  chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào “Huệ-Luật  Diệu-Hành  Trung-Thiên” nối hậu đó con. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

 NGỌC-CHƠN-QUÂN 

******************

Bài số 2 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 29 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (2 giờ chiều.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC là Chủ lý sáng dường bao
HOÀNG-Lịnh định phân rạng nổi màu
ĐẠI-hội qui chung Càn tín nghĩa
ĐẾ đồng tin cậy Khôn đình Cao.

Nầy mỗi con hiện giờ chung nhau học hỏi lý  thiệt vẹn mầu, hãy định-tâm nghe lời Thầy ban khuyên dạy chỉ. Nầy mỗi con, phận sự người tu chấp chưởng diệu thể, trí dũng dụng nhơn cho trọn Tín Trung, vẹn trò Cao Sư Môn thiện, thì mỗi con ráng trọn tuân lời, hành y  sứ  lịnh, mới phải phận con Ta, dựng lại Thượng-Nguơn thong thả an nhiên về Đạo-đức thiện bền đó con. Phận người tu khít khao Lễ Luật, chớ đừng sơ sót thì lỗi phận nghịch thời của Đạo-đức đó mỗi con.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI

1. Khi thọ phận Đạo-đức gọi mình thừa hành phận sự là có trọng trách, Sứ-mạng Sắc-lịnh Thầy ban, thì ráng gìn giữ từ lời nói cho tôn-nghiêm đừng rời Đạo-đức, là nói sao cho người an, người vui mừng tươi đẹp, gọi nói lành; gặp nhau chiêu đãi, cần dùng lễ mà đãi, gọi thiện duyên tương đáp, Lễ Nghĩa độ chung, Đạo Thường Thiệt ứng, vắng nhau nhắc nhở, dùng trí dũng biện chơn, là nhắc điều lành cho nhau, nghiệp thiện cùng nhau, nêu gọi Công-đức chung nhau, đó gọi là lời nói êm dịu. Vẹn vậy là lý tri-âm ứng hiện, huynh đệ tương tề đó.

2. Là phận sự người tu tùng ư Thiên-mạng, phụng sự Thiên-mạng, là tự nhiên trong mỗi người đều tinh-huệ, biết phụng Lý là giác thân, biết phụng Thiên là tri-kỷ, biết phụng Luật là thanh-nhơn. Mỗi con lòng gìn giữ cho vẹn phận người tu bền thân ứng chuyển, chánh-pháp tồn tâm đó là lưu thông, Pháp-Diệu thọ kỳ Thiên-lý tri nguyên đó. 

Mỗi con định-tâm nghe Thầy ban khuyên dạy chỉ Đạo-Đức Qui-Điều dựng lại Thượng-qui Cứu-linh Tế-thế đây con.

THI

Cứu Linh phận sự của chung trò
Tế-thế hòa thương gắng chí lo
Đạo-đức gương mầu lưu hậu tấn
Dựng gầy thanh thới đáo nguyên do.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng đặng trong đây mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

  NGỌC-CHƠN-QUÂN   

******************

Bài số 3 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU BA và BỐN

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng) 

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-Lịnh sắc phê tứ luật hành
HOÀNG đồ Môn-đệ gắng cần thanh
ĐẠI ân oai đủ điều răn thưởng
ĐẾ Chủ Qui-điều đoán dữ lành.

Mừng chung mỗi con Nam Nữ hiện hữu Đạo-đồng cùng phận sự cột-rường trong khuôn mẫu Đại-Đạo, định-tâm vưng nghe lời Thầy dạy ban tỏ Chánh-pháp đây mà hành phận cho vẻ vang trật tự chung mỗi trẻ. 

Tu cho đến Đạo thì trật tự cần phải quang minh, Đạo-đức dồi dào, tánh tâm đừng lãng, khắn khít muôn phần, đinh ninh lý thiệt, rèn lòng Minh-đức, chữ dạ Tân-dân; chung qui Thân, Tâm, Tánh, Mạng cận kề thiện mỹ đó trẻ. Vẹn vậy phải gìn giữ Chánh-pháp Chơn-Lý thanh thân Qui-điều kiên cố, Huệ-Luật phương châm tùng ư Thiên-mạng đó.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU BA

1.- Là Thập-Ngũ Linh-Đăng: Bỉnh-tề thân hạnh chỉnh đốn tánh tâm, rõ thông thanh trược, trí dõng  quang minh, dứt Tam-độc, xa Thất-tình, tránh Lục-dục, vững chí an tâm, bình tánh, Đạo-tâm bất lụy, mới xứng phận con Trời, thay thế cho Trời truyền ban Giáo-lý. 

Về Linh-Hồn gồm ngôi Bổn-Giác Chủ Tam-Hồn, huợt bác Thiêng-Liêng, thế Thiên Bỉnh tri mối chánh định Càn tri Khôn, thọ Thiên-lý, Bỉnh Thiên-luật, phân đoán thưởng răn, công minh tri trí, vận mạng Huyền-huỳnh giảng thâu Huyền-bí, giáo dục phê truyền, khai Kỷ lập Cang, thế Thiên Bỉnh-phán huy hoàng Đại-lịnh, thâu Chơn-Nguơn, xá thế thuận, phán trị nghịch Thiên, răn trừ ma chướng, phạt diệt quỷ tục tinh ranh, dựng lại Tam-Hoàng Đạo-đức, gọi Trung-Thiên Sơ-Đức Bình-Linh Thượng-Hội dìu dẫn huờn Thiên, hậu tiền tri-trí, gọi thông Thiên-lý truyền ban, thế Thiên huyền linh quang Diệu Minh Thần Huệ, tế thế khải-thông, Chơn-thiện giáo dục phàm phu, qui hồi Thiên-kỷ độ linh bỉnh lý xá ân cùng linh khai khiếu quang, phá tục mù, giác Tâm-nhơn, hòa Đạo-đức, gọi là thọ Ngọc-Sắc, Bỉnh Bút-hoa, ban Thiên-lý trạch Chơn-hiền, thâu Tín-trí, giáo nghĩa-phương, Đại-đồng cân sớt, phán đoán thưởng trị chung Linh, nhiệm kỳ ký túc, thanh thới mở đường, huỳnh trung trí dõng  cho phàm gian đó.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU BỐN

Về Anh-Hồn: Anh-Hồn giác thế, sáng lý quang minh Huệ-Tâm, Huệ-Tánh, Huệ-Khẩu, Huệ-Nhãn, Huệ-Nhĩ, Huệ-Tỷ, Huệ-Ý.

1.- Huệ-Ý gọi: sáng Ý, Ý chẳng đa vọng, đa  mê, phù hoa vật chất, quyền thế, lợi danh, tránh nơi trọng trược, thân thể đồng chơn, nghiệp sanh bất hoặc, huợt bác Linh-quang, giáo dục hậu lai sáng suốt, không đắm lụy vào chỗ tối tăm, kiên húy lý Trời, thành thân thọ Đạo.

2.- Huệ-Tỷ gọi: Mũi sáng chẳng thấm nhụy  sa, ngăn ngừa muôn vị, chẳng vọng tham vật, bội tâm trung trắng trong sạch ngoài, thâu hương Trời, đón vị tục, sáng suốt quang minh, biện phân thanh trược, xứng phận  anh minh, vui say mùi Đạo, chán nản mùi Đời, thành thanh chi Đạo, làm gương tiên giác anh minh. Anh-Hồn là vậy.

3.- Huệ-Nhĩ gọi: sáng Tai, Tai định nghe mỗi thì Đạo-đức, Tai  lắng  nghe hằng phút  lý thanh, Tai nghe công nghiệp nhơn cần, Tai thông sáng suốt  ân cần phát minh, lời châu ngọc Tai gìn nghe kỹ, định thâu truyền chánh lý đời tu, nghe lành nghe  phải phá ngu, chẳng nghe chi tiếng mê mù nhố nhăng, dị đoan giả dối rực rằn dữ hung, chẳng nghe danh lợi lăng quằng, thế thần độc ác lố lăng thói tà, định nghe tiếng nói trung hòa, mến thương êm dịu  thiết tha Đạo-mầu, anh minh sáng suốt làu làu, Anh-Hồn giác thế bác cầu Giái-tam.

4.- Huệ-Nhãn gọi: Mắt xem thấu lý thanh thời, đục trong phân biện xem rồi xét thông, Anh-tài  là thấu có không, không không có có luật công định bình.  Đây là sáng suốt anh minh, xét xem phân đoán Anh-tinh rạng ngời. Thấy lời châu ngọc Thầy Trời, ban truyền thế hạ nơi nơi hằng hà. Xem rồi thâu vãng vĩnh gia, cố kiên giác thế gọi là Anh-quang. Rõ thông cơ vận Huyền-Hoàng, xem đời xem Lý âu toan giáo truyền. Kinh bài giáo huấn chơn truyền, thơ ngôn điểm đích giác viên cứu đời. Anh minh quảng kiến thay Trời, Tinh-anh nguồn sáng tri thời giác linh. Anh-Hồn là vậy.

5.- Huệ-Khẩu gọi: Miệng nói lời sáng. Khi  định nói quang minh sáng suốt, nói lành an, nói mến thương, nói hòa thuận, nói chung nguồn. Đây là nói Đạo xuôi buồm về ngôi, nói năng đừng có sụt sùi, nói cho chung tỉnh rõ Trời tại tâm, đó là lời nói chẳng lầm, khỏi vương luật pháp phương châm Đạo-mầu, đó là lời nói cao sâu, nói nhơn nói hậu làu làu lời thanh, đó là quảng đại minh anh, chẳng sai không  sót đạt thành diệu minh.  Anh-Hồn là vậy.

6.- Huệ-Tánh gọi: Tánh sáng. Tánh trọn sáng không xao không dợn, Tánh bình hòa chẳng bợn chẳng thiêng, đó là Tánh-đức Cao Kiên, Tánh không ly Đạo mỵ quyền chẳng mang, gọi rằng Tánh-đức  bổn căn, Đạo cao Tánh nhiệm trang bằng hoàn Châu. Anh minh Hồn sáng thanh thao, Anh-Hồn rọi đuốc làu làu sáng trưng; gọi rằng cảm giác chi quân, sáng truyền lý sáng trọn vưng mạng Trời.  Anh-Hồn là vậy đó.

7.- Huệ-Tâm gọi: Tâm định phát Huệ là Tâm sáng. Tâm định tỉnh rõ thông trăm mối, Tâm quang minh là nối Thiên-lương, Tâm thông Đạo-đức nghĩa-phương, là Tâm chẳng tối Bỉ-thương diệu truyền, Tâm chủ định bổn nguyên Thể Lý, trược cùng thanh kinh dĩ phán phân, tự tâm tri giác ân cần, diệt trừ tà tục dò lần Huyền-vi, phương châm diệu lý tri kỳ, quang minh thông hiển mầu ky giác đời. Anh-Hồn là đó, gọi chăm nom sáng tỏ độ Thần, nguồn lành là Đạo-đức cần, nhứt Chơn nhứt Chánh tri Thần trung Linh. Đó chung con.

Về Thần-Hồn: Thần-Hồn là Thể Tướng khai dụng gọi Khôn Minh trí Đạo, gọi khai mở mối manh vật thể, gọi khai cơ khuôn mẫu thệ vi, Thần là Chánh-pháp bồi khuy, Thần-Hồn Đại-Đạo quang huy dõng tề, Thần thông sáng suốt linh kề, Thần đăng chiếu rọi cảnh quê tỏ tường; gọi rằng Thần trí tri phương, khai cơ Thống-nhứt khai đường Qui-nguyên; khai nền nhơn thể mối giềng, Tam-Hồn qui nhứt Hậu Tiền hòa trung; Vui Xuân Đạo-đức tao phùng, bằng an trật tự Huệ trung con Trời; Tam-Hoàng ánh vọi khắp nơi, Tam-Quân giáo lý cứu đời dựng Nguơn. Đó chung con  trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đây trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành  các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng,  Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 4 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU NĂM

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ khuya) 

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC châu chiếu rọi cõi trần ai
HOÀNG Lịnh Sắc-ban Đức Trí Tài
ĐẠI-Đạo Qui-nguyên hòa Thống-nhứt
ĐẾ Trung-Ương cuộc rạng ngày mai.

Nầy chung mỗi con định-tâm nghe Thầy ban trí Huệ-Luật diệu hành, chung gìn chỉnh đốn tánh tâm thanh phận; Lý gọi hiệp hòa khuôn mẫu Đại-Đạo đó con trẻ, chung  đồng thế hạ trần ai hiển hiện.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU NĂM

Về Chưởng-Quản: Thiên-Lý Diệu-hành thanh thanh bạch bạch, Lý gọi quang minh trật tự đó.

Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài kỳ Dương, chăm nom bài vở, giáo dục quần-linh, truyền ban nguồn thiện, pháp luật cố kiên, xét xem trong ngoài hành vi của Đạo, Điều-lệ ban truyền, khải-thông tế-thế, xử đoán Thượng-kỳ, trí-tri chung-thỉ. Đạo cao Đức rạng Trí-dõng Hạnh Khiêm, duy trì nền tảng, xây dựng Thiên-cơ, trỗi lý vững thần thông tri Tam-học, thống đạt Tam-lương, định bình Đạo-luật Tam-tề là Thiên-thời, Địa-thính, Nhơn-hòa; Chơn-pháp gìn giữ, Đại-Đạo Qui-Nguyên, Năm-châu về một, Cao-Đài Thống-nhứt, thế giái vận hành, Đại-đồng đệ huynh thuận Lý, thì đừng ích kỷ tổn nhơn, nghịch Lý Trời Cha mà đắc tội.

Về Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài, thay Thầy xây Cơ dựng Thể, vẹn bền Công-đức thanh phương. Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài kỳ Âm, phải quang minh trỗi thần gia tâm thể lý, thì công-đức rạng hồng, thinh danh Đại-Đạo là chỗ chung hòa, Nhơn-sanh Tín-ngưỡng là chỗ Hóa-sanh, Chúng-sanh vào cửa Đạo hân hoan tu thân tích đức, nhờ cửa rộng chẳng đón ngăn, Âm Dương khóa với chìa, gọi rằng khuôn mẫu, định-tâm đừng cho lộn thì lý diệu gọi Tường-quang; Đạo là nhà, Đức là nền, Khuôn là cửa,  Mẫu  là then, phải độ Linh chung hưởng mát, thì bằng an rộng rải, kín nắng chớ dội mưa, nền cao chắc chúng-sanh khỏi ngừa lở sụp. Hiệp-Thiên Hòa-luật, Cửu-Trùng-Đài là Thuận-công, Hòa-thuận Luật-công, gương cao Thiên-hạ, tránh điều bản ngã, xa chỗ éo le, cứu-thế phải hạ mình, làm đò rước bạn; tự cao thì ngã, giả dối là thiêng, thế quyền là mỵ, ích kỷ là tà, đứng làm anh Minh-đức Cao-tòa, phận làm trưởng phải hướng đường dẫn Đạo, ăn không ngồi rồi là bất hảo, kiêu hãnh là mất nhơn, Đạo Đức Nhơn Cao-sơn Thủy-bích, Tánh Tâm trạm-tịch, Thân Ý khôi ngô, hòa yêu tuấn tú, trau trác qui củ, cư xử chẳng lầm; vậy mới phận thay Trời hành Thiên-lý. Rõ Trời là Kỷ, biết Đất là Cương, Xuân sanh là Đạo, Thu lập nghĩa-phương, tượng trưng Nhơn-đức, Tam-chơn gìn giữ, Tứ-đức dẫn thông, Ngũ-quang tri giác. Phận Chưởng-Quản Nhì-nghi tỏ rạng, Độc-nhứt tôn nghiêm. Đứng làm anh ăn nói thuận êm, thanh thông  vĩ Đạo, Tâm Tánh nhiên hạo, định xét trang bằng, Ý Thân chơn thật, Thể Lý dịu dàng. Vậy mới xứng phận con Trời thế Thiên hành hóa đó chung con.

THI

Chưởng-Quyền phán xuất lý Minh-tâm
Nhị-lý Âm Dương trẻ chớ lầm
Dương khải Huệ-thần Âm cố trí
Âm Dương hòa nhứt hóa sanh thâm.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

  NGỌC-CHƠN-QUÂN  

******************

Bài số 5 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU SÁU

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ tối)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành là Đạo bớ nầy con
HOÀNG-Lịnh trí ban trẻ gắng công
ĐẠI thống nhứt qui châu chiếu thế
ĐẾ Quyền Trời Chủ hiệp Càn Khôn.

Mừng mỗi con hiện giờ trong lớp học Đạo-Tràng pháp gọi Khải-thông lý diệu. Vậy chung con định tâm vưng nghe Thầy ban ơn giáo chỉ khuôn mẫu Đạo-đức là Qui-điều rạng rỡ, gìn đây diệu hành Lý-chơn Đạo-pháp đó chung trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU SÁU

Về Tam-Bửu: Lý Thể Tam-Nguơn, tề tu Đạo-Thể Huệ-Luật Pháp-chơn đó trẻ, Tam-Bửu là  hòa Tam-lương Nguơn-Bửu, Thể, Lý, Dụng, Chơn.

1.- Là Nguơn-Thần: Nguơn-Thần qui Bửu,  Nguơn-Khí ư Bửu, Nguơn-Tinh chơn Bửu, phận sự  Thể-Dụng, Lý Nguơn-Thần là Thông Thần tri Phổ-huấn, Nguơn vững thông lưu, đây là về Công-trình  giáo dục, dìu dẫn nhơn sanh, đem Lý Đạo phô bày, khải thông tế dụng Đạo-luật kiền-thiền, Thiên-lương hòa lý, gọi định Nguơn trí phần khải Đạo đặng vĩ Giáo hậu lai Vô-Vi tâm định, rạng Thần trị phàm đắc Thánh đó. 

2.- Là Nguơn-Khí: diệu chiếu trung ư, Nguơn-Thần vững rõ thông trật tự, Dương-khí vận cơ vĩ lý giác tâm ôn lương tao nhã, Lý Thể gọi chấn chỉnh hậu tiền thỉ chung huợt bác giao tế chẩn tâm, về Khí-Bửu là lý thanh phù, Thể Thái-Bửu là vĩ thanh Đạo, truyền lý thiệt diệt trược trần, Bạch-thanh ư Đạo-Lý  đó.

3.- Là về Nguơn-Tinh: Nguơn-Tinh là thông quản về lý Tinh-Duy là Chơn-Hồn, Nguơn-Khí là Linh-Hồn, Nguơn Thần là Thần-Hồn, gọi Giác-Hồn, lý là Hồn, Phách, Huyết; Nguơn-Tinh là Huệ-Nguơn vững là luật sáng, Huệ tồn thông Thiên-Lý, về Thể Thượng-Bửu Pháp, Chơn Nguơn-Tinh thông tri Đạo Pháp Lý, lý gọi Tam-thông, phận sự diệu hành tròn trong trọn sáng, Nguơn-Thần là Xác, Hình, Thân, Chánh Nguơn-Khí là linh, lý Nguơn-Tinh pháp chơn tâm định ư linh phát huệ, qui Giáo tịnh Thần chi chơn Đạo hoằng Đức thể Tam-Nguơn Ngọc Thái Thượng  lý qui Giáo-chánh pháp môn gọi Đạo Lý Pháp; trị phàm tục huờn thanh, gọi tâm ư Chơn-bửu, thuần hảo mỹ lương, Nguơn-Thần giáo dục Đạo-đức chánh thể, Nguơn-Khí giáo dục Lý-chơn thể lý, Nguơn-Tinh giáo dục pháp luật thể bình an hạnh dụng nghiêm tôn thiện qui chung là Tam-Bửu, chỉnh đốn giáo dục khuôn mẫu sắp đặt trong ngoài giảng thâu lý thiệt, Pháp Đạo môn kiên tôn nghiêm thiện từ mỹ tự đẳng an, thông minh Thiên-lý huợt bác nguyên do trong ngoài rạng rỡ, xử đoán phân minh, trí tri tâm lý, về lý do Bửu, về thể trí Nguơn khải thông, dụng diệu vẹn tròn Lợi Trinh tượng khí Hoàng-chơn, tường Huyền-thương tri Bửu là đó chung mỗi trẻ.

THI

Thiên, Địa, Nhơn hòa Cửu hiệp Tam
Thủy, Phong, Hỏa, Lợi Bửu tàng Nam
Nhựt, Tinh, Nguyệt chiếu hanh cơ vận
Thần, Khí, Tinh Nguơn chơn chánh kham.

MƯU, bài nầy con đọc trước Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe chung, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật roi hậu. Thiên-Sư lưu-hành các Thánh-Thất, các  Khóm  Đạo Tràng, Đạo học chung.

(Thăng. 

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 6 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU BẢY

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (10 giờ tối. 

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc tứ ban Huệ-Luật rành
HOÀNG-đồ khải Lý Đạo cần thanh
ĐẠI-ân Trời xá đời mau tỉnh
ĐẾ Lịnh công minh pháp diệu hành.

Mãn giờ học Lý Đạo-đức đủ đầy tôn nghiêm  cảm ứng, chung mỗi con định tâm nghe Thầy ban Qui-Điều đây gìn tâm tượng lý vẹn hành rạng rỡ  thiện mỹ, mối giềng Đạo Trời Thánh-Giáo Huyền-bí ban truyền tế thế dìu chơn cứu Linh huấn lý đó trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU BẢY

Về Tứ-Bửu: trong bốn báu minh trưng sáng suốt Huyền-Khung Kim-Khuyết thọ thành, Ngọc-Hoàng Đại-Đế chứng tri, phối Thiên thông lý đạt kỳ, Thể Thân Chơn-pháp Địa tri tinh tường; gọi rằng phối Địa nghĩa-phương, phối Nhơn cương-kỷ giao tương Đức Tài; Văn-phòng Thiên-Cực Huyền khai, thông Huỳnh hoàng ứng hoán thay bốn mùa; trước rằng tiền tịnh tâm ngay, hậu chung sau rõ tánh nầy Kiền qui; tả chơn hữu chánh vẹn tài, thể Thiên Tứ-quí Địa thì tứ phương; Xuân, Hè, Thu, Đông, Bắc, Nam, Tây, Đông thống cơ qui trung, tín đức lý không rạng thành, hóa sanh tải phủ tượng thành, cũng do Tứ-quí lập thành Tứ-qui, Tứ Đại vần xây là cơ Thiên húy Địa-lợi, Nhơn-hòa, sanh sanh hóa hóa một ba đức kỳ.

THI

Tứ-thời Thiên-Lý giáo tường tâm
Kim-Khuyết Huyền-Khung lý cao thâm
Đại-Đế Ngọc-Hoàng khai tịch thể
Nhơn hòa tứ pháp tín phương châm.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng  Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật roi hậu diệu hành. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các Khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 7 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU TÁM

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 22 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ trưa)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC chiếu Nam-Phương cõi Thiệm-Châu
HOÀNG Thiên Ân-xá khắp đâu đâu
ĐẠI-đồng Huynh Đệ mau hòa hiệp
ĐẾ Điện Kinh-Cung mở cửa Lầu.

Mừng chung mỗi con lớp học hiện giờ định-tâm  vưng nghe lời Thầy ban dạy đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU TÁM

Về Thiên-Sư Lý ứng Ngũ-hành, Thể qui Chơn-pháp Thiên-lý lưu thông, cơ tuần vận chuyển, Ngũ-hành thọ Thiên-ân vưng Thiên-lịnh, huệ trí thấu Thiên-oai, Công-bình tế trị vưng mạng Trời đem lời  Chơn-pháp ban giao, tâm hằng định tâm chơn phát huệ; trí xét xem giao cách rõ ràng; thấu thông Thiên-vận hành tàng, Thiên-oai công lý bình an giữ gìn, rõ cơ trị tế quang minh, không sai chẳng sót Cung-kinh rỡ ràng, gọi rằng Thiên-vận Dương-cang, gồm chung Thể Lý châu toàn mầu vi. 

Về Thiên-Sư thọ Thiên Ngũ-lý, thể kỳ Địa vận chuyển Ngũ-hành, hội kỳ Nhơn-ngã chơn lưu tiếp. Nam-Thiên-Sư là Hỏa Dương-Công, hòa cùng Bính-Đinh-Quân, Hỏa-Tinh Thời Thần Quang, Càn trấn hộ Thiên-Cang chánh Ngọ, gìn giữ trấn nghiêm Thiên Triều Trật-tự. Về Bắc-Thiên-Sư là Thủy-Dương-Công hiệp cùng Nhâm Quí Quân, Thủy-Tinh Thần-Quang, hộ Thiên Lương Cửu-Tiêu Cực-Điện Huyền-Môn, Công Quảng Trấn nghiêm, thể gọi Khôn Trấn  Thần-Quang. Về Đông-Thiên-Sư là Mộc-Dương-Công, thuận cùng Giáp Ất Quân, Mộc-Tinh Thần Quang, Nhựt thời bất quảng, hộ Nhơn lương khí, Đông Mẹo Tả Môn, Ly trấn Thần-Quang. Về Tây-Thiên-Sư là Kim-Dương-Công, thuận cùng Canh Tân Quân, Kim-Tinh Thần-Quang, Nhựt Du thời ứng, hộ Minh Lương Vật-Thể, Tây Dậu Hữu Môn Khảm Trấn Thần-Quang.

Về Trung-Thiên-Sư là Thổ-Dương-Công, Hoàng Trung-Huỳnh ứng lý Hoàng-Yên, Thâu Thổ-Địa Tinh-Quân, là Sửu vượng Thần, Dần nương Thần, Cấn-Sơn trấn Thần-Quang, Giảng Bổn-Cảnh  Tinh-Quân, là Thìn vượng Thần, Tỵ nương Thần, Tốn-Phong trấn Thần-Quang, Định Thành-Hoàng Tinh-Quân, là Mùi vượng Thần, Thân nương Thần, Đoài trấn Thần-Quang, Phán Lôi Sứ Thiện-Ác Tinh-Quân, là Tuất vượng Thần, Hợi nương Thần, Chấn trấn Thần-Quang, Cơ-Quan huờn Trung Mậu-Kỷ qui-tín Hoàng Cực, Hư-Vô khải Lý; Thâu, Giảng, Định, Phán thanh thể là Thổ-Tướng, Mộc-Sanh, Hỏa-Hạp, Thủy-Hóa, Chủ Trung là Khắc-Sát, Vật-Dụng phản-phút thể-lý, Thiên-Lý lưu thông, Địa cuộc tuần chuyển, Nhơn Trí vận hành, Mậu là Vô Kỷ Thỉ, Lý trung qui gọi mối-giềng, Âm Dương Sanh-Hóa đó, Về Nhơn-Hội là Thổ-Tướng, Lý là Giao-Tiếp.

Về Ngũ-Hành Thiên-Sư phải vưng lời Cha Trời dạy bảo đủ Lễ-Độ, Tế Lý chẩn Nhơn, lưu thông  nguồn Thiện, gọi Háo Tâm cứu Chúng, vận chuyển  Lương-Quang  phùng Nhơn tấn Thiện, Trí-Dõng là Phương-Viên, Thông Thiên-Thời, chỉnh đoan Vận Mạng, Giáo-Dục Quần-Sinh, An-Hòa Trật-Tự, thọ Thiên Oai là Công-Bình Luật cả, quảng-đại Tâm Trung là Bác-Ái dìu Nhơn, Thiện-Từ là Mỹ-Tánh, hoài-đoái Cơ-Hàn là Thuận Bi hậu-cố là Từ-Bi Đạo-Luật. Ý thuần nghĩa là Trung-Thứ rạng đông, đoán phân bất hoặc, Tín-Đức cao Tăng, mới vẹn phận Thiên-Sư danh Thanh là Thiên-Lý đó. Thiên-Sư phải diệu-hành Thể-Lý 10 phận Luật-Điều nhiệm-kỳ  thanh-thới:

1.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: sắp soạn kinh bài bố thí.
2.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: lưu thông hành phận, dụng Lý Giáo-Nhơn.
3.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: Công-bình xem xét trong ngoài mẫu khuôn tri-trí .
4.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: vận chuyển thúc hối Công-đức, Quả, Trình, Phu, Lập.
5.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: khai mở gọi Khải-thông hoằng Chơn hóa Lý.
6.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài:  Chẩn-tế Cơ-hàn, Oai Trị Nhơn-Hội Tế Ân.
7.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: Phổ-huấn vô chướng ngại bất trắc Thiên-cơ.
8.- Vưng Lịnh-Hiệp-Thiên-Đài: Pháp thanh Lý,  Lý  Đạo Chơn, thân thể bất thiêng.
9.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: Thâu Nhơn,  Giảng Vật, Định Lý, Phán Thanh.
10.- Vưng Lịnh Hiệp-Thiên-Đài: Thừa hành phút phắt, bất ly chung qui Đạo-Lý.

Chung mỗi con gìn đây hành phận tỏ tường, gọi  mẫu khuôn vẹn Thể Lý thanh là thanh thới đó chung  con.

MƯU, bài nầy con đọc trước Đạo-Tràng Bát-Quái đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 8 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU CHÍN

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 22 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 - 9 giờ trưa)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC cao giá quí tại đồng trau
HOÀNG-Lịnh Thầy ban trẻ một màu
ĐẠI xá Chúng-sanh huờn Đạo-đức
ĐẾ quyền Kim-Khuyết trước hòa sau.

Mừng mỗi con, giờ đây nơi lớp học Bát-Quái  hiện hành đặng vẹn phần Chơn-pháp Môn tuân, giờ nầy chung mỗi con vưng nghe Thầy ban dạy đây mà xét lý hành phận.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU CHÍN

Về Nam-Thiên-Xu Lý gọi Thể Nam-Tào, từ  đây Cơ-quan nhặt nhiệm, đặng giáo dục đoàn em, thúc hối Công-trình trác trau lời thiện, ban lý lưu truyền, gọi mỗi con Nam Nữ mỗi kỳ Đàn Sóc Vọng  gắng lo học tập văn bài đừng cho thiếu sót phận tu  thiếu học thì thiếu rõ lý, thì khó dứt hết tâm tánh phàm tục đặng, nếu vậy thì mỗi con tu hành thả trôi, kết cuộc rồi trần ai cũng nhiễm, luân xa mang vướng, oan trái đeo đai, rất uổng công chung mỗi trẻ. Về Nam-Thiên-Xu gọi Thỉ-Tổ nguyên do Công-bình  Đạo-đức; vậy phận con từ đây ráng xét xem lý sáng huấn hậu Chơn-Qui, chỉ rõ máy tuần huờn, lành an  dữ dẹp, vẹn vậy là Hóa-sanh Nam-Thiên-Tào khí đó.

Về Bắc-Thiên-Trục cực chung, gắng chí ân cần ký tế với Nam-Thiên-Xu, sắp khuôn định mẫu cho  rạng rỡ Công-trình sử ghi Thiên-lý, tồn vong siêu thoát, cẩn cấp phù đồ, Chiêu-hồn Triều-bái, rạng rỡ  Pháp-môn đó là vẹn  phận  Công-lý thạnh hành bình tâm giác thế. Về Thiên-Lý chẩn phương, tế nghĩa, Về Hữu-Vi xem xét quang minh, giúp đỡ tinh thần Lý-chơn Bác-ái, vậy mới gọi nền nhơn hạnh phước, vậy mới gọi Đạo-pháp cao siêu, Lễ-nghi Trật-tự tỏ tường, Chánh-chơn vị-lập nghĩa-phương nồng nàn, đừng phai lợt khi người thác xác, Bắc-Thiên-Trục kỉnh thể Hồn qui, vậy mới rạng trí-tri Minh-đức, về Lễ-nghĩa thông lưu cho trọn lòng Nhơn hạ cố Trung-Ương rạng rỡ, Lý-diệu đương Đông, Đạo  cao lý sáng ánh hồng, là do mỗi trẻ hết lòng hòa tâm, định oai trị phàm tâm dùng Đức-hạnh tế nhơn chung cả đó chung mỗi trẻ.

THI

Bớ con vưng lấy Lịnh Cha Trời
Cho vẹn mới tròn đặng thảnh thơi
Một kiếp tu lai lòng vững chắc
Làm gương Hậu-cổ rạng thanh đời.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

  NGỌC-CHƠN-QUÂN  

******************

Bài số 9 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ẩn non Côn trẻ gắng tầm
HOÀNG-đồ quảng đại lý cao thâm
ĐẠI công lập Đức tường châu sáng
ĐẾ Chủ ghi tên Dương khử Âm.

Thầy mừng chung lớp học hiện hành nơi Ngũ-Hành-Tòa giờ nầy chung mỗi trẻ định-tâm vưng nghe Thầy dạy.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI

Về phần Tam-Tông là Giáo-Tông, Hiệp-Phong-Đài, Hiệp-Chưởng-Đài. Tam-Tông là chỉnh đoan giáo dục, chánh thể Đạo-đức cho đoàn em là: đem lý thiệt Thầy bày khải-thông diệu-pháp, dùng lễ độ mà chấp vấn lương giao, phải gìn kỷ-cương Đạo-pháp. Từ Lý, Thể, vật minh dĩ dụng an hòa, dụng Chơn-Đạo giác phán hậu kỳ. Phải thông vận mạng nguyên do, về lý Đạo; về Đạo-Dụng cần có nghĩa-phương, về Đạo-Thể phải có hạnh đức, về Đạo-Tướng phải đoan trang phổ hóa, về Đạo-Lý phải thông lưu chánh thể minh trưng, chơn nguyên Đạo-Lý, phải tránh xa tục lụy mơ màng, phải thân hành Từ-bi noi gương Vô-Cực, phải Bác-ái hiệp chí Háo-sanh, phải Công-bình thế thay Huệ-Luật, phải Minh-đức phất sự đời nhìn, phải Tân-dân gồm thâu thiện mỹ, nêu cao Thánh-đức, phải Cảm-ứng huyền vi đặng thông truyền hậu cố, phải Trung-dung vẹn tâm Thứ Nhiêu, cầm cân tri-trí Quân-tử, phải an mạng thành trụ rạng chí Trượng-phu, phải bình tánh Đại-hùng, làm gương Lễ, Nghĩa, Tín uy. 

Về Giáo-Tông là thành trụ thay cho Trời, Trời là tổ Háo-sanh, Giáo-Chủ là Tông minh thiện mỹ. Phải dứt hết tự tôn, phải vưng Thiên-mạng, phải thông hiểu vận hành, chỉnh đoan trong ngoài gồm ba cơ là: Lý, Pháp, Đạo.

Về Hiệp-Phong kỳ Dương, phải đủ Huyền-linh, phương viên năng dụng sắp soạn Kinh-bài của Thầy cùng Thiêng-Liêng dạy bảo cho vẹn, phải bố thí lương danh, phải phổ thông, phải thâu dụng, lời Trời ban dạy cho rỡ ràng. Phải hiệp chí cùng Giáo-Tông, thừa vưng Thiên-mạng, bất trắc lâm thời, quyền thế Giáo-Tông Tý dụng. 

Về Hiệp-Chưởng, phải cố tri hữu dụng, phải có tinh thần giáo dục đoàn em, phải an mạng Chấp tri Vấn dụ, phải lương giao Tông thể, đặng lo phổ huấn nguồn lành. Phải Lễ-nghi giác truyền cơ thể; phải hiệp chí thừa mạng Giáo-Tông, Tín qui phương viên Lễ Nghĩa. Phải trí cách tri lương, vưng Thiên-lịnh năng giao hậu dụ bất trắc tùy cơ tịnh lý giáo lương, Huyền-Năng năng giác, Cố-Vấn ngoại kỷ nội tri lương dụ, vô- ô tâm tục, phất phất tánh trần.

Về Giáo-Tông, Hiệp-Phong-Đài, Hiệp-Chưởng-Đài: đủ Huyền-Linh giác thế; đủ Huyền-Năng thành thể dụng chơn; đủ Huyền-Luật trị biệt tâm phàm; đủ lý do phán phân giáo dục đoàn em, kịp kỳ Thánh-Đức, dụng lý giáo truyền, thông tri bất động, an mạng vưng Trời, thương người độ thế, chung tu lập đức, Đức thạnh Đời thanh, rõ chơn Đạo thới đó.

THI

Cha Tổ lý truyền trẻ thuận qui
Nhứt-Tông thành Mục Đạo duy duy
Tả Phong Dương khí Càn Khôn hiệp
Hữu bật Cố Lương Chưởng Đức y.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 10 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-MỘT

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng dường châu trẻ ráng gìn
HOÀNG-Thiên hộ mạng phận Thường Tin
ĐẠI ân ban xá con hồi hướng
ĐẾ Chủ Trời Cha Thiệt phải nhìn.

Giờ mãn học đầy đủ tinh thần của mỗi con. Vậy giờ nầy định-tâm nghe Thầy ban dạy chung đây xét phận diệu hành chung trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-MỘT

Về Chưởng-Pháp-Đài, Chưởng-Đạo-Đài là chốt then ninh vật, gọi Đạo-đức dụng trì. Chưởng-Pháp gìn giữ Đạo-pháp chung nhau cho an vẹn là nêu cao tinh thần Đạo-đức, dùng Huệ-Luật Vô-Vi tự giác trị phàm tâm, qui hồi thiện Đạo gọi tâm Thánh-đức, ta trị tâm phàm ta, giác tha in một, gương hạnh độ điều, dùng lễ độ Đạo-pháp giáo dục đoàn em, về Hội-Thánh phải giữ gìn cho an phận. Về xem xét mỗi sự tinh thần thể pháp lý chơn do Chưởng-Pháp-Đài cùng Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài, rồi phải dưng trình thượng cấp, phải công bình chú định phương trương. Dầu việc nhỏ, sự to, lý thiệt phải thông Đạo-nghĩa, tinh thần mà xem xét. Về xử đoán phân minh muôn việc chi cần có Đầu-Sư tùy theo phái, tri lý, cùng tinh thần Tam-Bửu với Thiên-Sư thanh bằng hộ lý, trí Đạo mới vẹn.

Về Chưởng-Đạo-Đài, là thành trụ vật ninh Thánh khuôn hội Mẫu, là lý sáng đó. Phải chăm lo trong ngoài đủ thiếu, bồi bổ xây dựng chung tâm cùng Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài giáo dục dìu dẫn đoàn sau, sum vầy liên-đằng huynh đệ. Thọ Thiên-mạng, vưng Thiên-lý, lập Đạo-dụng thể thanh, chung qui Đạo-pháp, lý Minh-đức hậu kiền-thiền, tâm trung bất hoặc phải làm gương mỗi lý, phải tập tành mỗi sự, phải chánh pháp thể nguyên cho xứng đáng cột-rường tri trụ đó.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 11 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-HAI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 24 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ chiều)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC báu ráng trau mỗi mỗi danh
HOÀNG đồ khuôn mẫu củ qui thành
ĐẠI ân chẩn điển chơn truyền hậu
ĐẾ-Khuyết vun bồi thấu mối manh.

Thầy mừng chung mỗi con lớp học hiện hành là nơi Ngũ-Hành-Tòa gọi rằng Hà-Đồ Thơ-Lạc, trung lý hóa hoằng đây chung trẻ. Giờ đây mỗi con vưng nghe Thầy dạy.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-HAI

THI

Tam-Thanh rạng rỡ phận danh tài
Lãnh tụ ba màu hớn hở thay
Hướng Đạo diệu-hành thông Lý Thể
Tam-Tài tề dụ pháp thương đầy.

Về phần Đầu-Sư, ngự tại Trung-giái Huỳnh-ốc lương tề Thiên Địa, thay Tam-giáo, thế Tam-dụ, thông Tam-lý, hiểu Tam-huyền, hòa Tam-lương, gọi trí-tri cách-vật, Minh-đức Tân-dân nhiệm mầu thể dụng.

Về phái Ngọc Đầu-Sư dìu dẫn là Thánh-Lương hoạch quái tỏ tường, ban truyền lý nghĩa thanh phương, Công-trình học tập níu nương mạng Trời. Thần minh tận tánh vận thời, phẩm nghi võ trụ Đất Trời Người qui. Phải rõ biết đường đi Đạo-đức, đủ tinh thần ra sức dẫn dìu. Trên hòa dưới thuận mến yêu, xử xong mỗi thể tiêu-thiều trái oan. Thể phục lý kiêm toàn chung-thỉ, thay cho Trời tri-trí phân minh. Nấu nung Kinh Sử đức tin, mở khai khí tượng đồng tin mạng Trời. Dịu dàng lời nói thuận thời, làm đầu khai lộ rạng ngời Bửu-châu. Thỉ chung trung điểm bọc bầu, Đông Tây hòa hiệp một màu đừng phai. Phải thông Thánh-đức Tam-tài, hòa cùng Thiên-vận Cao-Đài Trời Cha. Tân-dân Minh-đức Cao-Tòa, thanh thanh ngọc ẩn sáng lòa hoàng huy.

Về phái Thái tri thùy hướng Đạo, giáo lương dân thuận thảo Lý Trời. Đó là văn thiện thính lời, cúc cung Thiên-mạng lập đời thuần phong. Chầu Trời, Trời ngự tâm trung, Tứ-tri kiên cố ung dung Năm-hằng. Thể thân phu phát cao đăng, chầu Trời đại thệ dò phăng chơn Trời. Ngưỡng chiêm Trời Đất Đạo Người, trong ba hòa một ngôi lời tế linh. Gọi rằng dìu dẫn Dân-sinh, phá mê Sanh-chúng Anh-minh Đức Tài. Công-phu Cao Lý Thể Đài, Lý-chơn cao sáng Thể Đài chánh qui. Dương danh hậu thế nhiệm kỳ, thế quyền Hội-Thánh duy trì đức tâm. Thỉ chung cao cả phương châm, diệt mù thoát tục đặng tầm nguyên do. Thế Thiên Phật nhựt cao lò, vô hình diệu hỏa thét tro bụi trần. Tăng qui trong trắng trong ngần, động tịnh chiêm-hốt Tâm cần Tánh thông. Giáo truyền đời tỉnh lập công, thờ Trời nhơn ý Trời trong đừng rời. Đó là thánh thể thanh thời, Chơn-như tri giác lập đời Trung-dung. Thái thanh ứng dụng vô cùng, Từ-bi Đại-lực Đại-hùng, chuyên trì danh hiệu Huyền-Khung cứu đời. Tế Linh rõ vận xuôi thời, Công-phu siêu  thoát thói đời xú tâm. Dương danh hậu thế thậm thâm, Công-phu trì Đạo duy khâm khôi hoàng.

Về phái Thượng kỷ-cang Cảm-ứng, lo cho tròn xuôi thuận Tiên-Thiên. Lập công bồi đức mối giềng, thiện duyên hữu hóa cần chuyên mới tròn. Hướng đồ phái Thượng bảo tồn, lập công cảm giác diệt đồ tà tây. Công tâm quả quyết hay hay, duyên thành quả mãn Cao-Đài thệ chung. Gọi rằng Công-quả vô cùng, Tam-Thanh Tam-phái hòa trung do Trời. Thánh thanh thể lý rạng ngời, Trung-dung nhiêu thứ đồng thời dìu linh. Từ-bi Bác-ái nhựt bình, Tam-lương tri giác Đẩu-tinh Huyền-Hoàng. Âm Dương Hà-thử Lạc-toàn, Tam-Thanh hướng lộ chỉ đàng Chúng-sanh. Rõ ràng Trời mối con manh, Thỉ-chung Chung-thỉ Đại-Thành hòa Tam.

THI

Tam-Thanh Thể, Lý, Dụng thành khuôn
Dẫn dắt Nhơn-sanh đặng tỉnh tuồng
Tam-Thể thay quyền Tam-Giáo Lý
Công-trình, Phu, Quả đắc tròn vuông.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 12 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-BA

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 24 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ chiều.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC chủ thể linh gọi Thỉ Sơ
HOÀNG đồ Chơn-pháp gọi minh cơ
ĐẠI ân xá thế Trời Nam Xích
ĐẾ Bí-Khuyết Kiêm Huyền trí thơ.

Mừng chung lớp học, mỗi con vưng nghe Thầy ban dạy dò đây con trẻ, gọi đoan tề khuôn mẫu đồng nguyên Bổn-nhứt.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-BA

VỀ Tứ-Bửu Thiên-Thể thừa Thiên-lịnh, thọ Thiên-mạng, tồn Tâm-lý, thống Lương-quang, giao tiếp trong ngoài rạng rỡ, lễ độ thanh từ, thọ lý lập chánh thể, liên lạc Sĩ-hiền, tế nguy trợ khuẩn, Lý, Pháp, Đạo, Đời, đồng an về chú dụ. Tứ-Bửu Thiên-Thể là Hội-Thánh Ngoại-Giao, phải tồn tâm thận-độc nghĩa-phương, định thân thành chiêu hiền đãi sĩ, lễ độ minh kinh dĩ chỉnh tề. Đạo thông lý sáng đề huề, cứu Đời về Đạo vưng thề xả thân. Pháp luật minh ân cần xét phận, rõ đời tàn độ tận Chúng-sanh. Chung nhau tám trẻ vẹn hành, trong ngoài cư xử mối manh ráng dò. Giải hòa giáo dục công to, thế Trời thay lý vẹn trò phải nên. Rõ mỗi lý Đạo Nguyên Pháp Thế, rõ rồi nêu hậu kế mỹ-thuần; giao tương thiện mỹ ròng xuân, phải tròn sứ dụ tuần tuần thiện lương. Phải quản xuất nghĩa-phương sau trước, phải hòa thân mực thước Đạo hành; Phải thông phận sự mối manh, chỉnh đoan lo liệu rõ rành báu Thiên. Trong cho trong ngoài yên lọc sạch, phải nấu nung phao phách Đạo đồng; Chữ Hòa, chữ Trí, chữ Công, Bửu-Linh chữ Lễ đồng chung Tín hòa. Về Thể, Dụng gần xa tên tuổi, quên nhà mình vì Đạo quên ngôi; Nâng cao lý sáng Đạo khôi, nhìn Trời công lý qui hồi pháp luân. Rõ câu Thường-chuyển chẳng ngừng, xử xong đời tục dạ vưng tương phò; Xét thân xem thể Đạo đò, rước người tục lụy lần dò huờn Sơ. Chung con Tứ-Bửu hiện giờ, Bốn con chánh phận phụ hờ bốn công; Gọi rằng Bát-Bửu tinh thần, ngôi cao phẩm rạng xứng cần tế nhơn; đó chung trẻ.

MƯU, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 13 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-BỐN

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (12 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng minh trưng chiếu cõi trần
HOÀNG thành Đạo luật gọi Tân-dân
ĐẠI qui cơ pháp truyền nguyên lý
ĐẾ Chủ Càn Khôn đức rạng ân.

Thầy mừng mỗi con, chung nhau lớp học định-tâm vưng nghe Thầy ban lời dạy bảo đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-BỐN

Về Ngũ-Hiệp-Quang phận sự cố gắng vẹn tròn, ấy là cơ thể thanh thông lý do trí dụ, nghĩa là: giúp Trời an vận trung tâm bất mậu, tài vật thâu xuất rạng hồng, sổ sách trắng trong an nhơn quảng kiến, Nam thâu, Đông hộ, Tây hiệp xuất, sang Bắc phòng tế cấp, Trung thủ vuông tròn minh quang châu đáo, sổ bộ trình tường, vững yên thong thả, ba tháng một kỳ đó là chung vẹn. Khi xét xem do Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài, thông tùng Chưởng-Pháp-Đài xứng phận, duy có Đầu-Sư, Tam-Bửu hộ trì, Thiên-Sư chứng kiến đây là: thể chẳng tròn, chớ bình vẹn là trình tường trong ba tháng là đủ, vi bằng ký chú Thiên-Lý, Thiên-Thể dụng đồng, chung niên sắp soạn thường nhựt tắc qui, lễ Tu-My đọc dụ, đừng để đến lễ mới hành phải thêm điều rộn ràng xao xuyến đó chung mỗi trẻ.

Vậy mỗi con an phận hiệp nguồn chung qui toàn vẹn, vậy mới gọi Ngũ-Hiệp thuận tùng, chớ di vô dịch đó chung trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 14 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-NĂM

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (12 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ẩn Non-Côn lý diệu tường
HOÀNG-đồ khai dựng cuộc Trung-Ương
ĐẠI-ân tế thế cơn nầy trẻ
ĐẾ Chủ muôn Linh khá bước bươn.

Thầy mừng mỗi con, chung nhau lớp học vừa rồi hãy định-tâm vưng nghe Thầy ban lời dạy bảo đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-NĂM

Về Lai-Tín-Quang, Hiến-Tín-Quang phận sự vẹn tròn là lập công bồi đức, thông quang tri dụ, an vẹn Hiến-Lai thuận nhập, Hiến khai thông cơ diệu dụng, kỳ trung lý pháp cung phụng tương tề, tri quang khí tượng, tự trí thông thương, lập lý cang trường, cửu cơ diệu trí đó; chung hai trẻ Nam-Lai Tín-Quang là thâu những tờ giấy vật liệu tài văn, vào minh trưng thông Thiên-cơ, Lý Thể. Về Hiến-Tín-Quang, hiến chiếu tờ giấy vật liệu tài quang, hiến chiếu minh trưng thông Thiên cơ lý thể châu đáo vẹn tròn chung hai trẻ. Vậy phải phận chung mỗi con cố tâm kiện phận, hòa chí mến thương lo tu tề tương cấp an dụ Châu-tàng đó chung con trẻ.

THI

Châu-tàng phận sự ớ nầy con
Dạy bảo an như khá vẹn tròn
Chung hiệp thọ kỳ thông trí dụ
Đừng chinh, chớ đổ hỡi nầy con.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa; đặng trong lớp học nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 15 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-SÁU và MƯỜI-BẢY

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Châu chiếu cảnh rạng tinh quang
HOÀNG-lịnh sắc phong luật pháp an
ĐẠI-hội Công-đồng trung Thiệm ứng
ĐẾ Huyền Tam-ngũ kỷ hòa cang.

Thầy mỗi con, chung nhau lớp học Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa định-tâm vưng nghe Thầy ban ơn giảng giải giáo dục đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-SÁU

Về Ngũ-Bộ Lôi-Thần Công-Soát phải thừa hành Thiên-mạng, phụng Thiên-lịnh, phò Thiên-Thể Ngũ-Hành Thất-Đẩu. 

Về Ngũ-Hành Thiên-Sư cùng Nam-Tào Bắc-Đẩu Tam-công hành vụ, cần phải có Ngũ-Bộ cùng Hậu, Tiền Công-Thần chiếu cố hộ trì, vẹn tròn không sót, là phận sự tường thanh.

Về Hội-Thánh phải sắm một Ngôi-bàn Ngũ-lôi để nơi Trung-Ương Bát-Quái. Ngôi nầy hình Tứ-Tượng, hình vuông 8 tấc, sắm 5 giá cặm lịnh Ngũ-lôi Thần-kỳ, ký theo phương hướng; sắm một ngôi đèn hình Bát-Quái sơn màu vàng, định sau Hạnh-lôi Huỳnh-kỳ, đèn nầy hình cao 30 phân, hình lớn 32 phân, đến ngày lễ Tu-My có lịnh Chơn-Quân an trấn.

Về phận sự hành-lễ của Thất-Bộ Lôi-Công, trước kiểng nhì 5 phút phải đãnh-lễ nơi địa vị, xong rồi vào Bát-Quái thọ lịnh, đợi Ngũ-Hành Thiên-Sư vào đến Bát-Quái, Ngũ-Bộ Hay Tả-ban, Hữu-bậc đồng thi-lễ cử án Tam-Lôi, rồi phò lịnh đứng nghiêm hầu Ngũ-Hành cùng Thất-Đẩu. 

Về hai Lôi-Thần kỳ của Nam-Tào cùng Bắc-Đẩu, Hậu Lôi-Sát Công-Thần Hắc-Cố tịch kỳ thì định ngang cung Cấn của Ngũ-lôi vị; về Tiền Lôi-Sát Công-Thần Xích-Chiếu tiên kỳ, phải định ngay cung Tốn của Ngũ-lôi vị; về Thất-Bộ Công-Thần khi định đến đãnh-lễ, hành-lễ thì trước thi-lễ Nguơn-Thần nơi Ngũ-Hành-Tòa là vẹn, vào đến Bát-Quái thi-lễ Ngũ-Lôi Ngôi-vị, phương nào Thần đó; phải đến địa vị hướng mặt vào Trung-ốc Mầu-kỷ, mới Cử-án xong rồi mới vào đãnh-lễ hay hành-lễ.

Từ đây Ngũ-Hành Thiên-Sư cùng Nam-Thiên Tào-Xu, Bắc-Đẩu Trục-Cuộc, kiểng nhì vào đến Bát-Quái an tọa ngự nơi Bát-Quái hướng mặt vào Ngũ-lôi Ngôi-vị chờ lịnh mới vào Bửu-Điện hành-lễ; khi hành mãn lễ, Lôi-Thần phò lịnh đưa Ngũ-Hành Thất-Đẩu về đến Ngũ-Hành-Tòa thi-lễ Nguơn-Thần rồi mới về Bát-Quái phục lịnh trí kỳ, rồi đồng nhau vào Bửu-Điện, tùy địa vị đãnh-lễ là vẹn phận Lôi-Thần phá khiếu khai Huỳnh, chiết Khảm thành Khôn, sấm tan mù tối nên tường trình Xích-Đạo, gọi đi ra vào đãnh-lễ, hành-lễ Ngọ môn chánh kỷ chơn cương là trọn phận. Áo Đơn-phục gắn chữ Thiên-danh thọ Thần.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-BẢY

Về Đồng-Tử có 5 Tông, mỗi Tông 200 phận.

   1.- là Tông-Thiên thọ thời Ngọc-đái màu xanh, Bố-tử mình đen chữ đỏ, tiền chữ NHƠN, hậu chữ NGHĨA, hành-lễ phò Tam-Bảo đến Tứ-Bửu Thơ-Văn.

   2.- là Tông-Bá thọ Địa-vận, hành-lễ phò Thiên-Thể, từ Tam-Tông đến Ngũ-Hiệp cùng Lai-Hiến, Bố-tử mình trắng chữ xanh, tiền chữ LỄ, hậu chữ TRÍ, dùng dây Ngọc-đái màu đỏ.

   3.- là Tông-Phương thọ nhơn hòa, Bố-tử mình vàng chữ trắng, tiền chữ TÍN, hậu chữ TRUNG, Ngọc-đái màu đen, hộ trì Văn-phòng Ngoại-Giao tương cập cùng Thập-Nhị Nguyệt-Tướng.

   4.- là Tông-Lý thọ Lạc-thơ, Bố-tử mình đỏ chữ vàng, tiền chữ HIẾU, hậu chữ ĐỄ; Ngọc-đái màu tím, lo giúp đỡ chỉnh đoan về Lễ-viện, phụng sự kinh bài luật lệ Đạo-pháp trong hồi hiếu hiến.

   5.- là Tông-Định thọ Đồ Hà diệu dụng, Bố-tử mình xanh chữ đỏ, tiền chữ HÒA, hậu chữ THUẬN, Ngọc-đái màu vàng, Tông nầy lo phận thừa hành Thiên-lịnh, lo bổn phận là sửa sang trật tự mỗi mỗi đèn, hoa, hương, quả tượng trưng lễ đồ thanh vật tinh hiến, khắp chung Tòa-Thánh Tu-Di. 

Năm Tông nầy ngự nơi Thanh-Trí Điện, khi đến giờ hành-lễ, thi-lễ Nguơn-Thần nơi Thanh-Trí-Điện rồi vào Bửu-Tòa hành-lễ là vẹn phận. 

Năm Thánh-Tông Đồng-Tử nầy có 25 chi, mỗi Tông 5 chi:

   1. Tông-Thiên có 5 chi: chi Thông, Quang, Minh, Thanh, Trí.
  2. Tông-Bá: chi Ngọc, Huyền, Mặc, Huệ, Hoàng.
  3. Tông-Phương: chi Tăng, Tín, Vân, Phong, Thiện.
  4. Tông-Lý: chi Huỳnh, Thái, Cơ, Chí, Từ.
  5. Tông-Định: chi Hiếu, Tử, Tiên, Thành, Khương.

Vậy mỗi trẻ diệu-hành, đến đâu lần Thầy dìu dẫn giáo dục đó trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đây mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. 

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 16 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-TÁM

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 29 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 - 5 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà châu báu bớ nầy con
HOÀNG-lịnh gia phong trẻ bảo tồn
ĐẠI sắc định thâu phò mạng Tý
ĐẾ ân lập Hội Thượng-Nguơn Tông.

Thầy mừng mỗi con hiện đây chung học vẹn phận vừa rồi, mỗi con thơ vưng nghe lời Thầy ban dạy:


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-TÁM

Về Thiên-Thần Sứ-mạng ráng trọng, phải tuân Thiên-lịnh, phải thừa hành Thiên-mạng, phải lo học hỏi lý diệu hành cho tròn bổn phận, phải liên tương Công-đức Hiệp-Thiên-Đài, thuận hòa chung-thỉ, phải trọn tròn cơ hội, tuân y theo Sắc-lịnh Trời ban, Mạng-lịnh Trời sắp.

Về phần hành-lễ vào Đông-Thắng Thần-Châu thi-lễ Nguơn-Thần, rồi vào Bửu-Điện đãnh-lễ trước giờ, xong rồi đứng hầu Đàn từ Châu-Thiên đến Cửu-Trùng thỉ-chung toàn vẹn, đừng để sót sai, phải gần với Toàn-Ban La-Hán, lo học tập Thiên-lý, lý diệu mới phát minh đó trẻ. Từ nay Nghiêm-tôn rạng rỡ chớ nên trôi trễ phận hiền.

Về Ban Trị-Đàn từ đây gìn giữ trật tự trong ngoài, lãnh nhiệm kỳ cố kiên sau trước đó, trong khi hành-lễ, thi-lễ nơi Thanh-Quang-Điện là đủ, rồi vào Bửu-Tòa hành-lễ.

Về Giáo-Tập từ đây ngự chung Thanh-Trí-Điện, nhưng khi hành-lễ phải vào Đông-Lang thi-lễ Tứ-Thánh.

Mong chung mỗi Ban cố tâm gìn phận cho rõ ràng danh nghĩa Thiên-lịnh sắc ban.

Về Ban Hiệp-Thiên-Đài Thường-vụ Thiên-Lý ngự chung với La-Hán, hành vụ chung thừa hành nhứt luật. Khi hành-lễ, thi-lễ Nguơn-Thần Trợ-Tá nơi Nam-Thiệm Bộ-Châu Thanh-Điện, rồi vào thi-lễ Nguơn-Thần Chánh-Chiếu, vào Bửu-Tòa tùy địa vị đãnh-lễ trước kiểng nhì 5 phút, rồi hữu phận phò Tam-Hồn cùng Chưởng-Quản Hiệp-Thiên, Cửu-Trùng-Đài. Về việc phò thể phải thân hành kề cận mỗi phận, mỗi danh cho rạng rỡ, dầu Đồng-Tử cũng y hành diệu dụng, mừng chung con y tuân lịnh mạng.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái hiện đây, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Bài số 17 📽️

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-CHÍN

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 5 Kỷ-Hợi 1959 (8 giờ tối)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-Sắc giải phân Lý tỏ tường
HOÀNG-đồ khuôn-mẫu Pháp giao tương
ĐẠI Huyền-quang ứng Đạo hoằng hóa
ĐẾ trí huệ thông thời vận khương.

Thầy các con, mỗi con chung nhau định-tâm vưng nghe Thầy giải phân Lý Thể Đạo-mầu hoằng Nguyên-pháp, chỉnh đoan khuôn-mẫu, tinh-thần diệu-huệ gọi phá mê, huờn đáo Chơn-thần tường Thánh-đức đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU MƯỜI-CHÍN

- Đạo-Lý là: Cơ-quang Huyền-bí, hoằng thể lập trần.
- Đạo-Pháp là: Thời năng chỉnh đoan khuôn-mẫu, phá tục giác-mê.
- Đạo-Chơn là: Khải-thông Đức-hậu, ứng khí tế-nhơn, thanh-điềm phước-vận, gồm Ba-báu rọi Đời tỉnh giác.

1/ Vô-Cực         : Huyền-Quang
2/ Thái-Cực        : Huyền-Năng
3/ Hoàng-Cực : Huyền-Linh.

Sánh với Cơ, Thời, Vận, Cuộc, Vạn-vật:

1/ Điện-Cực        : Ký-thanh.
2/ Hình-Cực        : Tế-lương.
3/ Nguyên-Cực  : Phát-triển.

-  Điện-cực: Ứng pháp diệu là Nhựt, Nguyệt, Tinh.
- Hình-cực: Luân chuyển thần-thông là Thủy, Hỏa, Phong.
- Nguyên-cực: Tồn, Trưởng, Vong do Thần, Khí, Tinh lai đáo.

Cơ sanh tồn, Vận tế tượng, Dụ hòa thân, gồm đủ Tam-Huyền, Lý gọi: Trưởng, Dưỡng, Thành; là Thời, Vận, Mạng; là Tam-Ngũ Thông-Hành, Hoằng-Đạo, Hóa-Đức đó.

- TRỜI có thể năm: Tây, Bắc, Đông, Nam, Trung phương định.
- ĐẤT có thể năm: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ.
- NGƯỜI có thể năm: Phế, Thận, Tâm, Can, Tỳ.

TRONG BA CÕI :

+ Thượng Khí Thanh-Bồng = Huyền-Trung-Huyền.
+ Hạ Khí Ninh-Bồng = Trưởng-Trí-Dưỡng.
+ Trung Khí Chơn-Bồng = Diệu-Trung-Diệu.

Huyền Trí Ninh-Vật Diệu-hòa, lập hình Kim- chuyên, thể Tam-giáo là Đạo. Mỗi con muốn thấu Đạo, hiểu Đức, biết Chơn cần phải xem, xét, định.

Đạo vẫn có ba: Đạo-Pháp, Đạo-Lý, Đạo-Đức.

+ Đạo-Pháp là: Qui-Mô
+ Đạo-Lý là: Cảm-Ứng
+ Đạo-Đức là: Nhơn-Nghĩa

Nay Thầy lâm phàm quyết độ tận chúng-sanh, là con Trời nơi Trung-ba phàm-hạ dạy mỗi con tượng trưng Ba kỳ Quang-điểm, phụng sự nguồn sáng gọi khai khiếu cho trần ai đó trẻ.

- Nhứt-Tiểu Thời: khai Đạo, lập Thể, sự Chơn là:   

“Nhãn-Quang Thị-Chiếu”

- Nhị-Tiểu Thời

“Linh-Quang Khán-Chiếu”

- Tam-Tiểu Thời

“Đại-Linh-Quang Ứng-Chiếu”

Nhãn-Quang hình “Dương-Mục” gọi xem tường cơ Phổ-độ.

Linh-Quang hình “Nhãn-Tâm” xét dụ, giác-tri, thức thiệt.

Đại-Linh-Quang hình “Tâm-Nhãn” tinh-thần phát giác, cứu độ chúng-sanh, khai-khiếu chúng-sanh, chứng-vị, Thể Ngũ-sắc, Lý gọi Tường-vân, chiếu Ngũ-quang, thâu Ngũ-giáo.

Ngũ-Quang là: Cơ, Quang, Thời, Khí, Vận.

: Ứng-huyền. Quang: Hóa-diệu. Thời: Chuyển-pháp. Khí: Hoằng-Đạo. Vận: Thành-cuộc. Lý phụng, Thể sự: là khuôn-mẫu, căn bổn cội nguồn đó trẻ.

Về Ngũ-Giáo lâm phàm, hộ Chơn-Thần Cực-Khí là Không-Dương Cao-Giáo Đạo Trời là đó. Nên gọi Qui-Nguyên Bổn-Nhứt.

Chơn-Giáo gọi  Nhơn-gian.
Thần-Giáo gọi  Thông-gian.
Thánh-Giáo gọi  Minh-gian.
Tiên-Giáo gọi  Hoàng-gian.
Phật-Giáo gọi  Bửu-giác-gian.

Trong Ngũ-Giáo, thể có Ngũ-Đẳng, Huyền-Linh xuất thế độ trần đây trẻ.

1/ Nhơn-Thần :  Tâm Thông-Suốt.
2/ Địa-Thần :   Tánh Trực-Kiến.
3/ Thiên-Thần :  Ý Linh-Tính.
4/ Nhơn-Hiền :  Tâm Tri-Giác.
5/ Địa-Hiền :  Tánh Lương-Thuần.
6/ Thiên-Hiền :  Ý Thành-Chơn.
7/ Nhơn-Thánh :  Chơn Trung-Dung.
8/ Địa-Thánh :  Chánh Hòa-Năng.
9/ Thiên-Thánh :  Thức Phương-Viên.
10/ Nhơn-Tiên :  Kiện Cảm-Ứng.
11/ Địa-Tiên :  Khiết Trinh-Lợi.
12/ Thiên-Tiên :  Bửu Nguơn-Hanh.
13/ Nhơn-Phật : Tỉnh Giác-Mê.
14/ Địa-Phật :  Huệ Xá-Lợi.
15/ Thiên-Phật :  Đắc Chơn-Như .

Đây là Tam-Thập Thiên-Tôn hòa với Linh- Huyền ứng vụ, khai Thất-thập-nhị Địa-cầu thanh khí, Linh-Huyền bổn căn xuất thế, khải Tam-Bửu: Thần, Khí, Tinh. Tam-Bửu gồm Lục-Thông Minh-Huệ là:

- Nhơn-Linh Căn-Chưởng Nguơn-Thần Khai-Đạo.
- Linh-Quang Nguyên-Nhơn Nguơn-Khí Truyền- Lý.
- Linh-Căn Nguyên-Linh Nguơn-Tinh Lập-Pháp.

Tâm-Nhãn thể, xuất Linh-Căn gồm Tam-Bửu, Tinh-Tấn, Trí-Huệ, Nhơn-Hậu, Lý-Hư, Đạo-Nguyên. Đây là Chánh-Tín Chơn-Thần, phá tục lập trần, giác mê, khai khiếu, ứng thời hòa khí tượng là Đạo đó.

Thầy mừng chung con định-tâm học lý suốt thông, trung hòa chấp-vãng đó trẻ. 

Mừng mỗi trẻ thấu lý do tâm định, chỗ định xem xét, suy nghĩ, phân phán, tấn thối mới thức tri là: Nhãn-Thị-Thức do Chủ-Tâm, Thị-Quang do Lưỡng-Nhãn. Tả Tín-Chơn, Hữu Uy-Chánh do Thần Chủ-Tể. Thể Lưỡng-Quang Thần-Mục hòa nguyên trí huệ, trí huệ cai quản của sự Động, Tịnh, Chánh-Chơn hoàn nhứt do Tâm định, hoàn Nhứt-Cực. Khán-Dã Thị-Phán Đồ-Thiên Mị-Dã là mạc vong trí huệ, ấy Vô-Thần-Dã, Ngã-Dã, Thố-Tâm vị Ngã-Dã. 

Nghĩa là: Xem, Xét, Nghe, Biết không chánh do tâm thiếu định, bởi mất trí, thiếu sáng, rồi ý dục mến mê sanh biến ra điều xấu giả, mị ly, bởi mất Thần-quang là ánh sáng nơi tâm, xa Đạo là do đó, lần lần Người xa Trời Đất, bạc bội nghĩa ân. 

Nay Đạo Trời khai mở, hoằng ban nguồn sáng gọi: chong đèn Trí-Huệ, đuốc tuệ soi đời, dùng tinh thần thức giác phàm-gian tự tri, khai thông đàng sáng, khải Tam-thập-lục Thiên, chiếu ứng Thất-thập-nhị Địa hòa Tứ-Đại Bộ-Châu, dựng Thượng-Nguơn Thánh-Đức đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra cho nhiều gởi các Chi Phái . . . 

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung rõ lý Chơn-Thần Vương-Giáo hoằng-khai Hoàng-Đạo, rồi nêu vào Huệ-Luật. 

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 23 tháng 6 Kỷ-Hợi 1959 (5 giờ chiều. 

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

  NGỌC sáng suốt thay bớ trẻ gìn
HOÀNG-đồ độ dẫn rộng thinh thinh
THƯỢNG lưu hoằng hóa ngàn muôn lý
ĐẾ lập Luật-Điều tốt đẹp xinh.  

Thầy mừng chung con nơi lớp học Bát-Quái  Ngũ-Hành, chung trẻ định-tâm nghe Thầy ban lời dạy chỉ đây con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI

Về Tứ-Phối đến đây Cơ-quang Dương-khí, vận cuộc thanh điềm, chỉnh điều khuôn-mẫu, Luật-pháp huy hoàng vẹn toàn Đạo-lý đức truyền,  nghĩa-nhơn khai ngõ đó. Tứ-Phối khăn đen gọi Đạo-lễ Thường-hành, khăn Tam-thanh phụng Đơn, Thường-lễ; khăn màu phụng Tiểu, Đại-lễ; đồng 8 lớp chữ Nhơn, Nguơn-Hanh khăn Đại-phục đỏ; Lợi-Trinh khăn Đại-phục màu vàng, Nhơn-Nghĩa màu xanh, Lễ-Trí màu trắng; khải Bốn-đức, Bốn-đức Bốn-phương tế-chẩn dựng gương lành, xây dựng Tam-tài, đoái thương vạn vật hiện nay thể hành. Nguơn-Hanh trước sáng Trời xanh, Lợi-Trinh Đất trụ an ninh thuận hòa, Đạo Người Nhơn-Nghĩa Tài-ba, đủ đầy Lễ-Trí chở che muôn loài, trung hòa uy tín xinh thay, gồm chung giềng-mối anh-tài phương trương. 

Áo Khai-Dương đóng 4 nút hình vuông 3 phân màu ứng theo phương Nguơn-Hanh hướng Nam màu đỏ, Lợi-Trinh hướng Bắc màu đen, Nhơn-Nghĩa hướng Đông màu xanh, Lễ-Trí hướng Tây màu trắng.

Áo Đơn-phục, Thường-phục tay rộng 5 tấc, Tiểu Đại-phục tay rộng 7 tấc; Tay áo, Cổ áo viền 1 lằn 5 phân tùy phương hướng. Về Nút Áo thể tượng trưng Khai Bế, đủ mẫu-khuôn tỷ lệ Bốn-ân, Tam-tài tròn vẹn tinh-thần, mẫu-khuôn ngăn đón Tham Sân Si cuồng. 

Áo rộng tay 5 tấc, phải châu đáo Năm-hằng trau-trác, Đạo diệu-hành thông đạt Tam-gia. 

Áo rộng tay 7 tấc, thọ Lễ-phục Chơn-như gìn giữ, xa Thất-tình lượng thứ Đạo-chơn, rõ thông Bảy-huệ cao-sơn định xem nghe biết xét huờn đáo thanh. 

Áo Thường-hành Đạo-phục là, Thường an cư xử Đạo người, kềm Tâm thúc Tánh Tâm tươi Ý bằng.

Xiêm trắng 8 lá, viền 5 lá xuôi 3 phân, ngang 5 phân, Nam viền đỏ,  Bắc viền đen,  Đông viền xanh, Tây viền vàng, Đạo Năm-hằng ứng màu Bế Trụ, vẹn Tam-cang qui-củ dưới trên. 

Dây Ngọc-sắc thay cho Ca-sa, mình màu vàng 21 phân, dài 21 tấc, bề mặt viền 4 lằn, mỗi lằn 4 phân, dư bìa mỗi bên 2 phân 5 ly, viền như vầy:

Nguơn-Hanh: trước là trên đỏ, đen, xanh, trắng; Lợi-Trinh: đen, xanh, đỏ, trắng; Nhơn-Nghĩa: xanh, đỏ, trắng, đen; Lễ-Trí: trắng, xanh, đen, đỏ. Đây là Tứ-Phối Đức Nhơn, thể giềng vận khí chánh-chơn lập trần. 

Chữ Yểm-Linh Thanh-Tự phương nào màu nấy, mang để hành Đơn-lễ 7 phân, phương danh là đó, chữ như vầy: TỨ-PHỐI NGUƠN-HANH, TỨ-PHỐI LỢI-TRINH, TỨ-PHỐI NHƠN-NGHĨA, TỨ-PHỐI LỄ-TRÍ. Gắn bên mặt gắn qua.

Mão gọi "Ngưỡng Thiên-Mạo", hậu đảnh Đoài tiền, ngạch uốn nguyệt Tam-Xoa, bầu Dương đảnh, tim đảnh 18 phân, Cốt Mão 18 phân, tiêu-đảnh thượng qui 18 phân. Nguơn-Hanh Mão đỏ, tiêu-đảnh đỏ ngạch đen, chót đảnh tượng Nhãn-Tâm, Trung-đảnh tượng chữ tiền Nguơn hậu Hanh chữ đỏ, Bông đỏ, Mai Trước tùy thời, tiêu-đảnh phân Bát-tiết tiền hậu. Lợi-Trinh Mão đen, tiêu-đảnh đen ngạch đỏ, hình thể kiểu cách y nhau, gắn chữ Lợi tiền Trinh hậu màu đen. Nhơn-Nghĩa màu xanh, tiền Nhơn hậu Nghĩa. Lễ-Trí Mão trắng, tiêu-đảnh trắng ngạch xanh chữ trắng, tiền Lễ hậu Trí. Tiêu-đảnh Thượng-qui đề chữ trong khuôn Bát-tiết, Bát-bửu, Nguơn-Hanh, Lợi-Trinh, Nhơn-Nghĩa, Lễ-Trí chữ Cấn màu 3 phân thể như Mão Ngạch.

Lạc-Thần-Phong: dài 9 tấc, Phang nào màu đó, hình ngang trên 4 dưới 8 phân, nghĩa là: Tiền khai Thượng-đức lập Nguơn, Công hành thể Chánh  qui-huờn Tinh-duy, Lý thông thấu thể trí-tri, thanh thanh Khí-tượng duy trì lý do. 

Về Bố-Tử hình tròn 18 phân mình vàng để liền, chữ màu tùy hướng, chữ 12 phân, bìa có 4 lằn, mỗi lằn 1 phân, thể Nguơn-Hanh: lằn ngoài là trước trắng, xanh, đen, đỏ, chữ đỏ; Lợi-Trinh: xanh, trắng, đỏ, đen, chữ đen; Nhơn-Nghĩa: đen, đỏ, trắng, xanh, chữ xanh; Lễ-Trí: đỏ, đen, xanh, trắng, chữ trắng. 

Nghĩa là: trong 4 hướng tương sanh đức hóa, tương khắc quang trược rã tồn lương. 

Khăn Tam-thanh, Khăn Đại-phục, sắm 2 chữ gắn như vầy:  

Nguơn-Hanh: mình đen chữ đỏ, là Nguơn-Hanh gắn bên mặt trước, mình chữ 5 phân hình tròn, chữ 3  phân. Bắc mình đỏ chữ đen: Lợi-Trinh. Đông mình trắng chữ xanh: Nhơn-Nghĩa. Tây mình xanh chữ trắng: Lễ-Trí.

Về Nghi-thức Hành-lễ, Đãnh-lễ tại Tòa-Thánh nơi Hồ Nguyệt-Trảng, ứng dụng kỳ Dương, kế hậu Thời-Quân nơi Thánh-Thất nhượng Chánh-Phối-Sư một cấp, kế Thời-Quân, Tứ-Phối, Nguyệt-Tướng, Công-Thần; Hành, Đãnh-lễ nơi Hồ Nguyệt-Trảng kỳ Âm-pháp, Nguyệt-Tướng tiếp Công-Thần tương cập Thời-Quân, Tứ-Phối; về Thánh-Thất tùy địa vị, Tứ Phối Công-Thần, tùy địa vị Ngũ-Hành.

Về Lễ-phục:

- Đơn-lễ mặc Đơn-phục: khăn Tam-thanh, Áo gắn chữ. 

+ Thường-phục: áo viền tay 5  tấc có Xiêm, khăn Tam-thanh.
+ Tiểu-phục: khăn màu, áo viền tay 7 tấc, mang Bố-tử, Ngọc-sắc. 

- Đại-lễ: Đại-Thiên-phục, đội Mão. Đại-phục: khăn màu, áo viền rộng tay 7 tấc, Bố-tử

Vậy mỗi con  điều chỉnh  châu toàn cho kịp cơ  vận chuyển, đến lễ Liên-Hoa Bái-mạng đó trẻ.

THI

Mẫu-khuôn trật tự kể từ đây
Pháp-luật sắp sang trẻ vẹn tài
Cảm-ứng mỗi điều hòa trí huệ
Nghĩa-nhơn thông đạt mới là hay.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái đến đây, đặng mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung, rồi nêu vào  Huệ-Luật.  

-Thăng) 

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-MỐT

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 24 tháng 7 Kỷ-Hợi 1959 (10 giờ tối)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Lịnh ban hành khải Cửu-cung
HOÀNG-đồ mở rộng rước con chung
ĐẠI-ân lập giới trò vâng học
ĐẾ Chủ Càn Khôn Đạo chấp-trung.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-MỐT

Bớ chung con nơi lớp học Bát-Quái, hãy định-tâm vưng nghe Thầy ban lời dạy chỉ, giải phân Lý Thể phụng thờ, chỗ Nhị-khí Âm Dương, luân chuyển soi rọi cõi trần, bố ban động tịnh cho vạn vật hấp thụ sống sanh, luân, biến, hóa, hoằng gọi hoát khai thời vận, thê trưởng dưỡng mới thấu máy Huyền-quang, năng-tri, năng-ứng, đó đồng trò trẻ.

Về Ảnh-phụng Thái-Dương, nêu định hướng Đông, của Tả-bang Ngọc-Điện, do phục triều chiêm ngưỡng. Còn Thái-Âm Ảnh-phụng nêu định hướng Tây, của hữu bậc của Ngọc-Điện, do lý hốt-chiêm. Mỗi ảnh ứng năm màu, gọi tường-vân Ngũ-sắc, Khí-tượng tương sanh do hào quang lộ điểm, là Thái-cực lập nghi đó chung con mỗi trẻ.

Về ảnh Thái-Dương, mình xanh chiếu Đông phương thuộc Mộc, nét thể trung tim màu đỏ, Mộc sanh Hỏa, về phận hành sanh hóa hoằng khai, đem về Người lý thể như vầy: xem phải định Cang-thần Tâm-chủ, ứng thể, thể khuôn là nét vành màu vàng thuộc Thổ thể Trung-dung Huỳnh-Đạo vãng thâu, về vận hành trung vụ làm đầu, Cơ luân chuyển làu làu tích cực, thể chánh pháp màu vàng tăng Nhựt, về Đạo người công trực vị tha, gọi rằng bát-chánh, truyền ra, ngày càng sáng suốt vĩnh-gia khúc-cầm; Tia là ánh dọa hào-quang, màu trắng đó là: tinh-tấn Kim-cang, tự nhiên hạo khí vén màn tà tây; Thổ sanh Kim người đây hình vật, Tâm trắng trong rọi đuốc muôn đời; đó là Người hiệp với Trời, hành Kim trị Thủy sáng ngời biện minh. 36 tia thể minh hư khí, Đại Linh-căn xuất thế Lục-long, hòa cơ Tam-thập thanh bồng, phù Thiên biến chuyển vận đồng toàn năng; vắn dài cao thấp thể rằng; mây, mưa, sấm, chớp bủa giăng ngày ngày; 18 điểm tròn, điểm của tia, hào quang tia dài điểm đó màu đen, tròn 5 phân lý gọi Năm-châu hào thể rằng nguồn sáng Trời ban, Địa-cầu hưởng ứng kỷ-cang vuông tròn; Khuôn phương viên điểm ngoài trong, đây là Thể Tướng gạn lòng hành nương; số Nhị-cửu hiệp tường Thập-bát, Cửu-pháp khai Cửu-đạt lý do; số phùng là số 9 bớ trò, Con người sanh tử ấm no chỗ nầy; Đọa siêu thức thiệt mỗi ngày, làm người tri giác vui say Đạo-mầu. Về khuôn vuông của Ảnh-phụng nơi Tòa-Thánh từ đây sắp thành Thiên-chơn, Chánh-giáo thước tấc điều chỉnh lại, hợp hồi Thượng-Nguơn Thánh-Đức. Khuôn hình cao 15 tấc, số 15 qui-củ chửng thằng, hình ngang 12 tấc đó, lý dụ trang bằng, Càn Khôn ký tế bủa giăng Cửu-từng, hiệp ngôi Càn ba phần không khí, là 12 số ấy mối Trời, Trước trên cao cả thuận thời, hóa hoằng trưởng dưỡng lập đời là đây; bầu tròn gọi vành, viên đồng 5 tấc, gồm Ngũ-phương, Giáp Ất Quý Đinh, Hư-vô 3 tấc cảm in vận hành, nét trong tùy dụ rạng rành, thể tâm hòa tánh phải lành là nên. Bề cao tia điểm nét 3 tấc, tia nhỏ 2 tấc; Thể số ngũ chia ra nhị khí, Đạo Tam-tài kinh dĩ âm dương; Đây là thể lý bày tường, Thái-Dương, Thái-Âm thước tấc nghĩa phương một hình, Về Thánh-Thất lý minh nhứt luật, Thể lớn nhỏ hình thức ngoài khuôn; Đó là tùy cảnh có không, Điểm trung y vẹn rặt-ròng lý do, Vành tròn 3 tấc cần dò, Tam-quang ứng dụng đây trò luật minh. Nét Nhựt Nguyệt tùy theo châu đáo ánh tia, hình không 15 phân, đây là số 15 chủ cơ phán, bề cao tia điểm nét 2 tấc, tia vắn 12 phân. Đó là cơ hội hoán huờn, đổi thay Thế-kỷ vần xây đêm ngày; 12 phân hay hay Tam-giái, Trời Đất Người nhơn ngãi huy hoàng; Điểm tượng tròn 3 phân, đây là tròn dụ chuyên cần một ba, Nhơn loại ngàn từng đồng y, Khuôn ảnh phụng cao 9 tấc, đêm ngày vận khí, Thể người đây suy nghĩ rõ ràng, hình ngang 8 tấc bình an, đó là Bát-tuyết châu toàn chấp trung; Đạo làm người rặt-ròng Bát-bửu, Bát-chánh thông hản hựu thỉ-chung; Thước tấc này Thái-Dương, Thái-Âm đồng thể, Về Thái-Âm Tây-Ngưu Kim-Khuyết, Pháp Từ-tôn Vương kiết Đoài minh, mình trắng là: Tâm pháp phù binh, Lý hòa phủ đổng động huỳnh chia đôi; Gọi trị tà đuốc soi đêm tối, đời tỉnh lòng mỗi mỗi vận an, Thái-Âm thiếu phận châu toàn, lưng đầy tròn méo bình quang chẳng đồng; Bớ con gạn lựa nơi lòng, bình tâm thối ngụ xét trong rõ ngoài; nét chữ đen, Kim sanh Thủy Tam-tài so sánh, Điềm ứng đưa thể ảnh tùy hình; Không không tụ khí khí thanh, khử vàng do lửa vàng lành nước trong; Thể có, Lý không, Có không hữu dụng suốt thông bảo tồn, vàng xanh là: Thủy lưu dưỡng Mộc rặt-ròng, đó do khí vận người thông dẫn người; Tánh bình hòa ý hưu cấu vật, Tánh lặng yên vuông tất thể thanh, đây là pháp dụng mối-manh, Liêm-cần Nhân-cách rõ rành khương ninh; Vành tròn Võ-trụ tâm thình, vuông tròn khuôn mẫu thể hình ngoài trong; Tia đỏ gọi Hồng-quang đêm đông rạng chiếu, phá mây mù đa thiểu hoàn công; Đây là thể dụng nghiệp đồng, phước dư soi rọi rặt-ròng chẳng quên; Làm người cần thấu tuổi tên, Thể hồng-quang chiếu hư nên tiếng đồn. Danh nêu tiếng rạng đục trong, gương trên võ-trụ ráng thông mỗi trò; Điểm vàng: Hỏa sanh Thổ Địa-cầu nở nảy, thế bình hòa hoằng khải tế truyền, đây là Thể Tướng bình nguyên, lý do vận chuyển Hoàng-huyền giao tương; 18 điểm Điền Thương Sơn Hải, Hiệp Âm Dương thế thái đó Thiên; Gọi là Tam-thập-lục Huyền; Thanh thanh cao cực gọi Thiên ứng tường; Hòa chung Thái-Âm, Thái-Dương, tia số 72 đó là: Nhị-khí Cao-Dày, Thiên-la Địa-sát từ đây tế truyền; cộng chung điểm tượng Bổn-nguyên, 108 Tam-huyền Ngũ-gia, Lý rằng Trời Đất Người ta, Hàm-linh Xủng-động Sơn Hà cỏ cây; Bớ con suy lấy nỗi này, Nhìn chung sự sống con bầy bớ con.

Về Ảnh-phụng Tâm-Nhãn, 5 màu châu toàn, tượng vận Tam-Kỳ, Thầy đã giải giáo rồi, đây Thầy dạy về thước tấc, hình thức khuôn thể chửng thằng, là lý do qui-củ, Ảnh- phụng Tâm-Nhãn, là Tâm-lý Đạo-mầu, Tuyên-đại-hóa truyền, huờn qui một mối là thời vận lưu thông, thanh thành vẹn trọn đó. Thánh-Tượng Tâm-Nhãn nơi Tòa-Thánh, hình cao 18 tấc, hình ngang 15 tấc là: số 18 thông Huyền-hoàng Kinh-dĩ, cơ lập trần bán cửu thông người, 15 là Khôn Càn hiệp nhứt thảnh thơi, ngôi Càn thống chủ Thái nơi Trung-hòa; Tu-Di Độc-Nhứt hoàng ca, Trung-Thiên ứng cảm gia gia khương bình; Gọi rằng Thiên-Quốc cứu Linh, Người Trời hiệp Lý lòng in tỏ tường; Thượng-Nguơn Hanh-thỉ Nghĩa-phương. Qui-nguyên Tam-giáo hiệp trường Ngũ-chi; Đạo Trời là chủ Nhì-nghi, Tam-Hoàng Cứu-Thế trí tri năng truyền.

Thánh-Tượng nơi Thánh-Thất; hình cao 15 tấc, ngang 12 tấc Tam-Cảnh Đàn-Linh, thể cũng đồng y Thánh-Thất là: số 15 thâm cao đồng một, từ Hư-vô điểm tột vật hình, là cơ sanh hóa vận hành lưu thông, số 12 rặt ròng Tam-đạt, Tâm định an lý thoát mê mù; Tánh bình lặng lẽ hòa Thu, rõ Trời Ba lý một bầu hóa-sanh; về khuôn viên ngoài ra, về lễ sự phụng kỉnh thành, tùy theo lớn nhỏ rộng hẹp gọi có không do tâm thành của mỗi con sắp đặt; về tượng khí Hồng-quang cùng Ngũ-sắc thể phiêu, mỗi trẻ tùy khuôn tượng dụng vi.

Về Thánh-Tượng Tâm-Nhãn nơi mỗi Nhà-tư, hình ngang 58 phân, hình cao 7 tấc 2 phân, là vận khí Khải-thông, Đạo Trời hoằng-hóa xuân đồng Cửu nguyên; Trong số cửu năng truyền Bát-bửu, khải Ngũ-thông hản hựu thỉ-chung; Mỗi con an mạng tao phùng, tùy an vận mạng là trong trắng hòa; Chấp-trung vãng dụ Thích-Ca, Mầu-cơ Minh-đức trung hòa thân thân.

Nơi Thánh-Thất mỗi trẻ phải lập ngôi Chưởng-Án Thần-Giáo, do Khương-Thái-Công Chủ-Giáo, Nhưng không có sắm Lịnh-kỳ, bởi vì Lịnh có một cắm tại Trung-Ương, là nơi phán đoán, còn Thánh-Thất Tôn-Thần hữu trách, là: tróc Quái thâu Tà, chớ không có lịnh phán đoán nên không có Lịnh-kỳ, không sắm Lục-giác Huỳnh-đăng, có Lục-giác Châu-đăng, đèn này 6 cạnh mỗi cạnh gọi trạm 9 phân, hình cao 36 phân, Ảnh-phụng hình ngang 18 phân hình cao 27 phân, chữ đề "Thái-Công Thần-Giáo" mỗi chữ 6 phân chữ đen, mình ảnh màu đỏ.

Nơi Tòa-Thánh Ảnh-phụng Thần-Giáo hình ngang 21 phân, hình cao 36 phân, chữ đề "Thái-Công Thượng-Phụ", ảnh màu đỏ, chữ màu đen, chữ nho, chữ 6 phân, ý nghĩa hiệp Bảng phận Thần, buổi Lục-hào Tôn-thần oai trị tà tây, tróc trừ quỷ chướng; đèn Lục-giác Đăng-thanh hay Huỳnh-thanh đồng nhau, hình cao 45 phân, 6 trạm, mỗi trạm gọi giác là 12 phân, gọi Thần-quang ứng lý phục triều Thiên-mạng trấn thủ Trung-Ương, hộ Thiên-Chơn phò Cửu-Tý, tróc Quái trừ Tà, Đại-đồng phán đoán, dữ dẹp lành an, phụng Thiên sắc sứ khâm triều, giúp an Thần-mạng, Thiên-tánh Nam-Công, huy hoàng đuốc tuệ, gọi chỉ-căn cứu khổ lập trần, thâu Đại Linh-căn nguyên điểm, tái dựng Thượng-Nguơn, khải-thông Thánh-Đức đó, nên mỗi con ân cần lý dụ chớ nên hờ hỏng uổng thay.

Còn Ngôi Chưởng-Án này gọi Bàn-thờ là ghế mặt hình tròn 9 tấc, hình cao 9 tấc, đây Lý Thể Đạo qui hoàn khí tượng đó chung qui mỗi trẻ điều chỉnh nơi nơi Thánh-Thất, Tòa-Thánh hoặc Linh-Đàn, đến Lễ Liên-Hoa cho châu đáo. Thầy mừng mỗi con, mỗi con nghe Thầy dạy.

THI

Đạo-đức hoằng khai huệ luật hình
Qui-điều Bỉnh-chỉnh Diệu Thần Linh
Hai-mười-một Lý minh chơn giả
Khuôn-mẫu Tu-tề ứng thiện huỳnh.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra lưu hậu kế truyền. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-HAI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 8 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ẩn Non-côn bớ trẻ mà
HOÀNG-đồ độ dẫn hỡi con Ta
ĐẠI-ân xá thế mau hồi hướng
ĐẾ Chủ Càn Khôn hiệp nhứt Tòa.

Thầy các con, mỗi con định-tâm vưng nghe Thầy ban ân dạy chỉ đây con TRIỆU.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-HAI

Hiển hiện hôm nay đã đến thời kỳ Thượng-Nguơn Thánh-Đức Lý Thể đồng thanh, do Đạo người căn bổn, Liêm-cần trí dụ tác chơn, nơi Nhà-Thánh trọn nên Huệ-Pháp, Lý-minh, Đạo-mạch, đây là thời khí thoại điềm vận cuộc Hồng Thanh Trung-Thiên ứng trụ, nhiệm vụ thới thanh nguồn lành thuận cơ thuần chơn do Thiên-tứ Trường-cửu luật lệ bảo tồn, Nguyên-linh tế khải đó.

Vậy nơi Thánh-Thất từ cửa Bửu-Điện đến Tứ-Linh, Thầy dạy cho 3 đôi Liễn đây, mỗi con học đó diệu-hành đặng đón lại nhơn-tâm thái hoan canh-cải lý trí lòng lơi kìa trẻ. Nếu không lưu hậu lâu đời chơn-truyền phai dợt, biến đổi thiêng vị tả bàn bởi nơi ý dục lộ trừng phóng túng.

Đôi Liễn nơi cửa Thánh-Thất kề cận với Biển Thánh-Thất đề như vầy:

THÁNH CẢNH THIỆM CHÂU, CHIẾU SẮC CAO BAN, TAM THỪA QUI THƯỢNG KHUYẾT.

THẤT ĐƯỜNG HIỀN SĨ, PHỤNG HÀNH ĐẠI LỊNH, NGŨ ĐẲNG THỐNG TRUNG ƯƠNG.

Nghĩa : nơi Thánh-cảnh có người lành gọi chỗ sáng đựng chứa món hòa. Chiếu-sắc Cao-ban là: do Huyền-linh Diệu-Pháp ban truyền sắc-lịnh chiếu-chỉ lập trần, thì phận Nguyên-nhân Lương-chí là quang-điểm tinh-duy, phải vưng tuân Thiên-mạng cứu độ trần-ai, hướng hồi thiện-toản đồng hòa khai khiếu phá mê nêu cao chánh tín. Tam-thừa Qui-thượng-khuyết là: trong ba thừa hiếu chí là: Cửu-cấp Nhân-linh đồng qui triều Ngọc-khuyết, là dựng Ngôi-thần Chủ-Ông thanh định tại tâm. Tam-thừa: 

Câu 1 : Thượng-thừa chánh vị là Sơ-thừa, trong đó có ba gọi Thượng của Sơ-thừa, lý gọi Thượng-thượng Hư-vô, Trung của Thượng-thừa là: Trung hòa mỗi bực, Hạ của Thượng-thừa là: Sau của lẽ trước, gọi thuận tùng do Đạo đó. Về Trung-thừa là Trung vị có Thượng của Trung-thừa, là: Thượng-trung cố vụ, Trung của Trung-thừa là: Tọa ngự bực trung, tâm tánh hòa đồng ôn lương chung-thỉ, gọi Trung-dung vô khí-tượng, Hạ-thừa có Thượng của Hạ-thừa là: Trước của lý sau, nên sự làm chỗ biết thông hay hiểu kế lai tường đức hóa, Trung của Hạ-thừa là: người đồng Bác-ái giữ chữ Trung Tín với lòng quảng-đại huợt bác thông suốt nghĩa nhơn; Hạ của Hạ-thừa, lòng hạ cố chỗ tối tăm, bực tối làm điều tối, Người Đạo người, vào chỗ tối đổi tối mở sáng, đặng đồng nhau rõ sáng, thể chung qui về Thượng-khuyết, là đem lại bình hòa đẳng cấp dựng chánh-tín, thấu chơn-thần, tâm trung vô ngã vị là Đạo đó. 

Câu 2 : Thất-đường Hiền-sĩ là: nơi nhà Đạo gọi ngôi báu phất trần, vào đến hài lòng nhờ nghe tiếng hiền của Sĩ-nhu giáo dẫn lề lối Đạo-đức cứu an đồng loại cùng muôn vật, báu là đó. Phụng-hành Đại-lịnh là: người hòa thân vào Đạo, phải phụng sự lý Trời Diệu-hành thanh dụ, sự lịnh tôn-nghiêm là rèn lòng mẫu-khuôn do Đạo-mầu bền khắn khít. Ngũ-đẳng Thống-trung-ương là: năm cấp Phật-đẳng, Tiên-đẳng, Thánh-đẳng, Thần-đẳng, Chơn-đẳng; mỗi đẳng đồng gồm 3 báu là: Thần Khí Tinh, Thông Hành Dụng, Trí Huệ Minh, Diệu Huyền Tượng, Nhân Nghĩa Tín; đồng gìn mối chánh nơi Trung-Ương, là chấp vãng kiêm bình là Đức đó.

Đôi Liễn thứ nhì định kề ngang bàn Chưởng-Quyền trí phán đoán giao, kề theo tấm Biển Đạo-Nguyên Bổn-Nhứt, đề như vầy:

CHƯỞNG HỘI VẠN LINH TAM THIẾT LONG HOA KHAI THÁNH ĐỨC.

QUYỀN CÔNG BÁ GIÁO NGŨ ĐĂNG THẦN BẢNG LẬP DÂN LƯƠNG.

Nghĩa : Chưởng-hội Vạn-linh, do Thiên-sứ Cõng-Thần phán phân mạch dụ, tế chẩn muôn linh, ba kỳ thiết lập Đại-hội Long-Hoa, Bình-linh dựng khí tượng, ứng Đại-thành truyền ngôn Thánh-đức. Chiết thứ nhì: Quyền-lực Công-bình, do Trời thâu Đạo Bá, giáo-tôn nghiêm tín, Ngũ-đăng Thần-bảng, năm món sáng lưu thông vận chuyển, biến thể Năm-hằng, hiệp bảng tinh-thần đoán vụ đọa siêu, tồn diệt đắp nền Tân-dân, qui mô lương thiện, là Đạo-đức năng truyền đó.

Đôi Liễn nơi Cửu-Tiêu Tứ-Tượng là, nơi bàn Cai-Quản hội, đồng hành Đãnh-lễ đề như vầy:

HỘI KIẾN ĐIỆN TRUNG ĐẠI THIÊN ÂN ĐỘ SANH CHÚNG TAM KỲ KHAI ĐẮC QUẢ.

ĐỒNG TRIỀU BỆ THƯỢNG TỪ PHỤ TỨ HỘ HOÀN CẦU NGŨ GIÁO CHUYỂN THÀNH CÔNG.

Nghĩa là: nơi Bửu-Tòa Điện-Ngọc, đồng Môn-đồ yết kiến trung tín, ngưỡng trông phước lành của Cao-vương ân tế, Oai trí Công-bình chiếu soi lý pháp, mở khiếu ban vui độ muôn sanh chúng vị, hoằng mối kỷ-cương, khải Tam-Kỳ dẫn thông đàng sáng cho thế-hạ ứng cảm tùng lương, diệu-hành đắc-quả, là kết tựu phỉ nguyền đó. Chiết thứ 2: Đồng-triều Bệ-thượng nghĩa là: Chung Linh triều-phục dưới bệ thệ lòng, khẩn tấu Thượng-Tiêu Cha Trời đoái phận, Từ-Phụ tứ, Cha Trời cho phước là dạy dỗ dẫn dìu, con nguyện trung kiên lời vàng chữ dạ, khắp Võ-trụ Hoàn-cầu thuận xuôi khuôn-mẫu, Vĩ-đức lập trần, ưỡng chung Đức-hóa, Ngũ-giáo có Ngũ-đẳng lâm trần, phá mê dẹp tục đem điềm lành Trời Cứu-Thế phụng Thiên Lịnh hòa thống tinh-thần, Ngũ-chi qui nhứt với Trời buổi thời luật chuyển Đạo khai, trong Bá-giáo khá dày công điều chỉnh lý do, Tân-dân tế thế cơn xá Đại-đồng thành công toại niệm, là châu toàn trọng trách đó. 

Bớ chung con lời vàng Thầy gồm chung Lý Thể Dụng Nguyên, giáo ban cho con học đây thấy đó để thi hành tròn phận đó.

THI

Luật lệ Thầy ban trẻ cố gìn
Chớ con canh-cải rủi tay chinh
Đổ thân xiêu phận lâm vào luật
Thiếu sót phải xa sẽ mất bình.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ lớp học Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-BA

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 9 Kỷ-Hợi 1959 (3 giờ khuya.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Sắc lịnh phê sắp Luật-điều
HOÀNG-đồ Huỳnh chiếu huệ Huỳnh khêu
ĐẠI truyền Đạo, Pháp, Lý hoằng khải
ĐẾ Chủ Càn Khôn chánh-thể nêu.

Thầy mừng chung mỗi con nơi lớp học Huệ-Luật vận hành gọi Bát-Quái Thiên-cơ trí mạng, mỗi trẻ phụng thừa Luật-điều huệ-quang oai ân thông hoán hậu.

TRIỆU, con vưng nghe Thầy dạy ban giảng giải Liễn nơi Tòa-Thánh đây; rồi chỉnh đính nơi Huệ-Luật lưu hậu kế truyền gìn lý Thiên-ban Chơn-thần Chánh-thể, tránh qua các nạn tục lụy cải-canh của mối phàm sánh sửa đó chung con trẻ.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-BA

Đôi Liễn nơi Hiệp-Thiên-Đài gọi Liễn Hiệp-Thiên-Đài.

Câu 1: HIỆP NHẬP CAO ĐÀI BÁ TÁNH VẠN LINH QUI CHÁNH NGƯỠNG.

Câu 2: THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO, NGŨ CHI TAM GIÁO HỘI LONG HOA.

Câu 1 nghĩa là: vào cửa Cao-Đài, phải hiệp tâm, hòa tánh, phụng sự Trời che Đất chở, đó là đồng Đạo, chung cả muôn linh trăm họ, đồng nhìn nhau như một, mến nhau như ruột, thể đồng đẳng con của Đất Trời, hội nhau một nền ngưỡng trông Thiên-ân tế ban dẫn dìu trên đường chánh đại là Đạo-đức nhân-mỹ gọi thăng bằng ngay thẳng.

Câu 2 nghĩa là: Thiên-Khai Huỳnh-Đạo, hiển hiện hôm nay Trời dùng bốn báu: Diệu Minh Thần Huệ Giáo-lý lập trần, khai thông ý dục của trần-ai thế-hạ con Trời, hoằng hóa pháp Hư-vô, truyền tin Thái-Cực gọi Vô-Vi nêu phận Chơn-như Thiên-trí, Bổn-Giác huợt bác Thiêng-Liêng gọi Thông Thiên nhị xác thay Trời phò trì Pháp huyền chấp bút tuyên thời hoạch quái Đồ Thiên, Đạo-Lạc dựng lại Trung-Ương Trời Đất, Nhơn-loại, Vạn-vật; lập nền sáng, móng êm, đàng lành, nẻo tốt gọi võ-trụ lành, an hòa Đạo, Địa-cầu trong, Nghĩa hiệp Đức, gọi Huyền-huỳnh Cảm-ứng; Ngũ-Chi là Phật, Tiên, Thánh, Hiền, Thần đồng là nguyên do Tam-giáo, Bửu-quang bởi Căn Đế gốc rễ Đạo-mầu do Trời Đất, từ tượng hoàn bửu-khí, nay thời Trời biến Huyền-Quang, khải Huyền-Năng, phổ Huyền-Linh, chiếu sắc lập trần Hiến-chương Đạo, Lý, Pháp gọi cứu thế-gian, thiền tâm-đạo, kiền tánh-đức, trùng phùng Đàn hiến, Tứ-đức Bát-bửu rèn tâm phá khiếu hội Thanh-bồng Tam-Hoa Càn Long sứ-mạng, nơi Châu-Thiệm Trung-Ương huờn tụ đảnh đó gọi Đại-hội Long-Hoa là muôn linh đồng tọa ưỡng Tòa-Chương, nhìn phụng thống sự, thông Trời Cứu-Thế lập Tam-Hoàng nơi Đất Việt là giống Rồng Tiên, danh đại-nghĩa từ đây Khai-Tịch, hòa đồng khắp Càn Khôn phục nhứt đó.

THI

Đạo-mầu hoằng hóa Luật-điều qui
Đức hạnh mỗi con bước kịp thì
Lý diệu hoằng khai Trời độ tận
Pháp thiền chung trẻ dạ hoàn qui.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ học Đạo, nơi Tràng Ngũ-hành gọi Bát-quái Mạng hành lưu ứng Đạo-pháp đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Huệ-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-BỐN

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 10 Kỷ-Hợi 1959 (11 giờ khuya.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ  Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Sắc Lịnh phê chấm điểm công
HOÀNG thành danh Đạo-đức hoằng thông
ĐẠI thừa Chơn-lịnh Trung oai Bỉnh
ĐẾ Chủ Luật nghiêm điểm chỉnh đồng.

Thầy các con, mỗi con định-tâm vưng nghe Thầy giải phân Lý-luật, Đạo-pháp huệ oai, mẫu-khuôn lề lối đây chung con toàn tất.

TRIỆU, con bạch xin Thầy Giáo-hóa dạy truyền Liễn, Biển từ Tòa-Thánh, khắp Thánh-Thất, Bửu-Tòa, Linh-Đàn; Thầy phê ban, phán giải đây con chung học.


ĐẠO-ĐỨC QUI-ĐIỀU HAI-MƯƠI-BỐN

Đôi Liễn nêu Bảng Danh-hiệu Đạo khắp đồng nơi Ngọ-môn, chung cả cảnh Trường-Qui Đạo hoặc Thánh-Thất, Bửu-Ngôi đây trẻ.

Câu 1: CÀN THỐNG TAM TÔNG, QUI TAM BỬU, ĐẠO HOẰNG KHAI TAM GIỚI HIỆP.

Nghĩa : Càn ngôi Dương-cực, Thống thể Huyền-quang, thế thay Trời hiện nay khai-khiếu thế-gian, ban lời giáo giác, kêu gọi hiệp chung nhìn Trời, qui Tam-bửu: Thần, Khí, Tinh. Tam-Nguơn hòa mạch giữa Trời, Đất, Người đặng vẹn lành thông êm sáng; kêu Tam-Tông Thanh-Giáo thể là Thánh, Phật, Tiên; Cao-Tòa Môn-sanh nhìn mối một; là Trời Chủ-Tể, đồng hộ Đạo, khai lý hoằng pháp lập trần; gọi thông truyền tin đại hóa, Tam-Giới Người tường phụng sự Tam-tài thanh Sứ-mạng đó.

Câu 2: KHÔN THÂU NGŨ GIÁO, CHUYỂN NGŨ HÀNH, ĐỨC HÓA VẬN, NGŨ CHÂU HÒA.

Nghĩa: Ngôi Khôn thể Địa-tượng, nay Thiên-thời khai, Địa-cuộc hóa; đến kỳ uyển chuyển Ngũ-hành; Dầu: Lý, Thể, Hình thường lưu động, đặng dưỡng hạo độ luật nghị, thâu hồi Ngũ-Đẳng Giáo-Chi là: Phật, Tiên, Thánh, Hiền, Thần-Giáo; Công-đồng hộ Trời lập Đạo, hóa Đức, vén màn, tốc cái mối Liên-đăng, hòa hiệp giữa Trần-dương là Ngũ-Châu cõi Hoàn-dinh trên Nhơn Vật đó.

Giải thích: Càn, Khôn, Thổ tỉ Âm Dương, hòa Tam-tài Đạo; lục sanh Đức, khai Tam-Huyền, hoát Lục-khí do Xích Thiên-nhiên chủ phán động, thống-qui hòa hiệp Ngũ-đẳng đăng Linh gọi hội Thiên-đào, Cực-khí đề ban, chấn hưng Thỉ Bích lập trần-hoàn, thay dùng Tứ-khí Điện-cực Thanh-vô, tế dung ứng chiếu, do Hồng-điển hào quang hộ bí tiết, gọi qui thống Tam-Tông, Tam-Bửu hiệp Tam-Giới, khải vận-cuộc thời cơ, Nhị-hình hoằng khai Đạo. Về Huỳnh-Cực hối hóa yếu hoàng, do Xích-chiếu vận chuyển Ngũ-hành, thâu truyền Ngũ-giáo, tế-phổ trần-cương, tề Chơn-kỷ, trên Ngũ-châu rằng: phàm-gian trần-hạ, đó cũng do số Tam-tam ưng cửu, Tam-ngũ đồng gia, lưu hình tế-khí là: Khai-Thiên, Tịch-Địa, lập Đạo phán Huỳnh, chỉ vũ-trụ là căn-cơ, đề bọc-bầu là mô giới, đó là Đạo-giáo hoằng-khai, Đạo-đồng phục thiện đó.

THI

Trời khai Đạo Lý Pháp hoằng ban
Đất tượng vật lương hình vật toàn
Người trọn trung-hòa kiên-nhẫn chánh
Lập trần phản ảnh huệ nhiên an.

MƯU, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Huệ-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giải nghĩa: TỪ-BI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 8 Đinh-Dậu 1957 (8 giờ sáng.

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT  Giáng-Đàn. 

THI

NHIÊN thông tâm tánh gọi tao phùng
KỲ vị chơn-truyền ứng Đạo trung
CỔ tích đức công kiêm đắc hạnh
PHẬT Tiên cũng một lý hòa đồng.

Chung Chư-hiền trong lớp học cao lý Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa, hiện giờ định-tâm nghe Bần-Đạo phân chỉ rõ hai chữ "TỪ-BI" đặng nhìn theo sửa mình vào khuôn-mẫu

Từ-Bi là: Từ tâm Chơn-hỷ, Đạo đắc Trung-dung. Bi là: tâm đắc Đạo, ái chúng lý ái thân. 

Từ là: trọn lành chẳng rời lành, nghe đặng tiếng lành thì vui mừng bền giữ; nghe ai đặng lành hơn mình, thì mừng cho đó có lành, định-tâm nhìn ngay vào lành đó, tôn trọng người lành đó, định-tâm học theo người lành đó, người xưa nay không trọn lành không tu-niệm, ngày nay biết tu-thân biết hành thiện, thì nơi tâm kỉnh phục tinh-thần người đó, liền đem thân gần người, gọi kết nghĩa tương giao, hòa tâm tri giác, rồi đồng nhau đem nguồn thiện đó ra công dụng, từ vật, sự, lý vẹn tâm vậy ấy tâm Đại-từ. 

Bi là: tánh trọn đức, gồm là Đức-tánh, thấy ai xiêu lạc nguồn chơn, nhố-nhăng mất Đạo thì phận trò phải trọn lòng thương, dĩ kinh huyền lý, đem nguồn chơn-giác dắt dìu dẫn người, người thiếu Đạo-Tâm, Đức-Tánh, Ý muốn hại mình thì phận trò phải thương người còn thiếu Đạo, xa Đức lu linh thì trò phải dĩ ân báo oán, hòa tâm lần lần đem Đạo-lý độ người đừng vậy nữa, trò đặng vậy gọi dựng nên Trời trong Đất thể đó. Người quá dữ, không thế độ được, mong hại mình hoài thì phận trò nên tránh cho xa, đặng người không thấy hình mình, cho lửa Tham Sân nó lặng, tránh cơn khí nộ oan trái dứt dây không ràng buộc cho nhau, hay mưu thần chước quỷ dẹp yên chẳng kết, là mình thoát khỏi luân-hồi, người chẳng vương luật Trời phạt trị, ta người khỏi vướng chỗ thống khổ lao lung. Đó là: tánh trò Đại-bi, Đại-từ, như như. Đại-bi, Trung-dung, Cảm-ứng, vẹn trò Chơn-Lý, tâm-trung, Minh-quang bất thối đó Chư-hiền.

MƯU, bài nầy Đệ-tử giao lại Chưởng-Quản in  ra, đến ngày 29 đến đây, đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái tại Ngũ-Hành-Tòa nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

  NGỌC-CHƠN-QUÂN 

******************

Giải nghĩa: BÁC-ÁI, TRUNG-THỨ, CÔNG-BÌNH

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 8 Đinh-Dậu 1957 (11 giờ trưa)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-điển chấn hưng mối Đạo Trời
ĐĂNG tường bất diệt ánh nơi nơi
CỔ Kim chơn-chánh là duy nhứt
PHẬT, Thánh, Thần, Tiên ứng Tứ-thời

CHƯỞNG-Quản Nam-Thiên ngô huấn lý
GIÁO truyền Đạo-hạnh rõ thanh đời
ĐẠI quang Máy-tạo không không thể
THIÊN chỉ TÔN Thần chí chẳng rời.

Mừng thay! Bổn-Sư mừng Chư Đệ-tử, định-tâm Bổn-Sư dạy truyền hai chữ "BÁC-ÁI" đây, đặng học hành sửa đổi tục phàm trở nên trọn phần Đạo-đức chơn-chánh đó Chư-hiền. 

Bác-Ái là: rộng thương, Bác thông Chơn-Lý, Ái trực tâm minh, Tâm định về Đạo là trọn chơn, Tánh thông về lý là trọn đức, tánh an lặng bình hòa, như như tham khiết, quảng đại quang minh, đừng để chút trần-ai trọng trược xen vào, đó là Tánh thông minh thương nhau như một, lý Đất chở Trời che, Ta Người đồng tánh mạng Linh-quang, nhìn chúng-sanh như thân ái, dung chế cùng nhau, dìu dẫn nhau đến lý thiệt, xét mình tỷ người, đồng điểm quang, đồng Chơn-phách rồi đoái xét đàng sau; dầu bò, bay, máy, cựa, tuy thiếu Linh- quang nhưng đồng sống, chết, vui, sầu thì giữ lòng Bác-ái đừng cố xáo trộn nhau, để cho bằng thẳng an lặng nhau, đó là: tâm tánh Bác-ái, Trời Đất là ác khí tan, không xung đột phạm lý Không-Hư, vẹn vậy là vẹn trò Chơn-đạo, Chơn-đạo đạt kỳ Thiên-lý, Tâm bác quang-minh, Tánh thông ái-đức gọi Bác-ái; Minh-đức, Tâm-tinh, Quang-thông là Chơn-đạo đó.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM mặc mặc thể như bình
CHƠN-TỂ thanh phương lý huệ minh
QUAN-THÁNH chủ tin đồng Nhựt Nguyệt
ĐẾ-QUÂN cang-kỷ hữu nhiên huỳnh.

Bần-Đạo chào Chư Hiền-sĩ, vậy hiện nay Bần-Đạo giáng Đàn chỉ phân hai chữ "TRUNG-THỨ" cho chơn-nghĩa Chư Hiền-sĩ học đây rõ lý chánh duy đó Chư-hiền. 

Trung-Thứ là: Trung-tâm bất muội, Thứ-nhơn ngã Đạo, Trung-tâm trạch chánh trực chỉ Thiên-Chơn, Thứ-nhơn ngã đức, Trung-tâm ngã trung kỳ ngã, ngã đắc chơn-dã, ngã thứ vật-chất ngã, ngã thắng ý dục ngã, Trung-Thứ là vậy. 

Trung là ngay, tâm ta phải định, tánh ta mới bình; tâm ta định, tâm ta phải ngay thẳng cùng ta, tâm ta xét dầu có người hay không người, ta giữ trọn ngay với người, là ta không hổ tâm với ta, đó là tâm ta chẳng tối, là ta ngay với ta là vậy, rồi sánh với người là tánh ta phải bình, là mỗi Sự, Vật, Lý chi ta phải rộng xét tha thứ cho người, một mực không xao, tánh trọn Lý-chơn dung chế cho người, ấy là: Ta trọn Đạo vậy, tròn Đạo chẳng lìa thì chẳng mất lành, chẳng mất lành là gần Trời đó, là trọn ngay sánh cùng Trời vậy, ta gồm đặng lý ngay, ấy ta sợ Trời, Trời là lý không, thể ta dùng Đạo-nghĩa dung chế cho người, là không nhắc lỗi cũ của người, ấy là: Ta có Đức vậy, đó là ta thông Đạo-đức của ta, ta ngay thẳng lấy ta, ta trọn chơn với ta, ta xả hết điều ham muốn của ta; chỗ Hơn, Giỏi, Khôn, Cao, Giàu, Sang, Quyền, Danh; đó tức là: Ta tha thứ cho Linh-hồn ta nhẹ sáng khỏi ràng buộc, đó là ta diệt hết Ý phàm ham muốn hễ thác khỏi Ý phàm trược là trọn thanh, gọi  là nhập Thánh là vậy đó, gọi Tâm Tánh cố trứ, thứ trung, đắc chơn  thành Đạo-lý, trung hòa Nhựt Nguyệt, thứ nghĩa hòa Khí Tinh, Tam-Thiên thọ thọ, thân bửu hồn tâm, đắc chơn vị Đạo, gọi là Chơn-Đạo.

DIỆU-THIỆN LA-HÁN  PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn. 

THI

DIỆU minh nguồn báu để tầm nguyên
THIỆN chí vững tay chớ đổ thuyền
LA cõi Phật, Tiên thanh Thánh triết
HÁN thông cơ hội xích tường Thiên

PHỔ khai Đại-Đạo kim tiền lý
TẾ phước độ Đời chốn Hắc-Uyên
THIÊN Địa chở che là võ-trụ
TÔN nguồn thiện dụ vẹn bình yên.

Bần-Đạo mừng chung Hiền-sĩ, Bần-Đạo lâm Đàn ban chỉ hai chữ "CÔNG-BÌNH" cho rõ lý, vậy Chư-hiền định xem đây xét lý Công-bình. Công diệu kỳ trung, Bình mặc kỳ tánh, là mình gìn giữ Tâm trọn chơn, tức là: thiệt ngay, Tánh trọn đức, tức là: thiệt thẳng ngay, thẳng điều có thiệt ấy là bình, không thái quá bất cập, không thối chí về lành, không giục tốc về giã, tức là: công tâm trọn xét trọn công, tánh bình hòa trọn thẳng, đó là tâm tánh hòa lý Trời Đất sáng tợ đương nhiên Nhựt Nguyệt, vậy gọi người có Trời Huệ-Luật Hư-vô, tâm người chẳng ngớt, gọi người trọn ta, thiệt người ta, Công-bình là Thiên-chơn gọi là Tâm-lý.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại  Chưởng Quản in ra, đặng đến ngày 29 đến đây, đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

  NGỌC-CHƠN-QUÂN  

******************

Giải nghĩa: TÂM-LÝ

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 23 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 (8 giờ sáng.

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT  Giáng-Đàn. 

THI

NHIÊN bình nhĩ-ngã tánh tường chơn
KỲ thọ tâm trung dứt mẻ sờn
CỔ giáo thạnh nhơn khai diệu-huệ
PHẬT thành như ý đức keo sơn.

Mừng Chư Đệ-tử, Chư Đệ-tử định-tâm nghe Bổn-Sư dạy hai chữ "TÂM-LÝ" đây mà xét lý giữ gìn cho tròn Đạo-đức. 

Tâm là chủ định, là lẽ trong, gọi là: Chủ lẽ định trong, bổn phận người Đạo phải chủ là tu; định là hành, khi hành hưởng ứng nơi hay, hiểu, gọi lẽ trong, muốn tròn lẽ trong xét cho tường trong lẽ, đặng vậy thì muôn điều không sai lý, muôn việc chẳng nghịch tâm trung, tâm trung thường định xét rõ lý trong, trọn chữ tu-hành là đó, là tròn chung-thỉ, Đạo-đức đó là Tâm-Lý, người tu gìn đó, gọi người tu gặp đặng chơn Trời, tâm trung trọn sáng đó.

THI RẰNG

Chỉ bày phân giải chỉ tâm trung
Thượng-Đế Ngọc-Kinh gọi Bắc-Khung
Giáng tại Nam-Phương dùng trích-tự
Dạy truyền thế-hạ rõ thỉ-chung.

MƯU, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đặng  đến ngày 28 đến đây đọc trước giờ Đạo-Tràng Bát-Quái nơi Ngũ-Hành-Tòa đặng trong đó nghe chung. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giải nghĩa: NGUƠN-THẦN, CHƠN-LÝ, THIÊN-LÝ

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 23 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 - 8 giờ trưa)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-điển Đàn-trung chỉ giải rành
ĐĂNG tường Đạo-đức huệ tâm thanh
CỔ Kim tu-niệm ròng chơn-pháp
PHẬT độ người tu rõ mối-manh
CHƯỞNG lý giác thân thông trí thức
GIÁO truyền lý thiệt thấu Cao-Xanh
ĐẠI-ân Trời xá cơn nầy đó
THIÊN lý TÔN nguồn rạng thinh danh.

Bổn-Sư mừng Môn-đồ, Chư Môn-đồ định-tâm nghe Bổn-Sư giải phân hai chữ "NGUƠN-THẦN"  học đây gìn phận xét mình cho tròn khuôn-mẫu Đạo-đức, người tu bền cầm trung-tâm tròn lý, ấy là: vững chắc Nguơn-Thần, Đạo tường Nguơn là Đạo trọn chơn, học lý thấu Thần, Lý tròn chánh Đạo-lý, chơn-chánh nơi tâm hằng vậy gọi tu gìn trọn Nguơn-Thần, mới khỏi lầm lụy Thần là giả dối, khỏi lầm tánh phóng luyến Vô-Thần là: hung ác, vong luân, Nguơn-Thần vững rõ Trời trong, là Chơn-tâm Thần ký gọi Chơn-Thần. 

Chơn-Thần là: thiệt sáng, người tâm trong thiệt sáng, ấy là gồm trọn Chơn-như, bình Tam-trí là: Định tâm trong, Thâu ý mã, Sát tánh phóng, tâm chủ định Chơn-nguơn Thần-huệ tịnh dục, đó là Nguơn-thần lý diệu, trước hết của người tu là vậy.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM truyền yếu cứu buổi đời
CHƠN-TỂ ban khai Đạo chớ lơi
QUAN-THÁNH diệu trung Tâm, Tín độc
ĐẾ-QUÂN trực trực Trí tường nơi.

Bần-Đạo mừng thay! vui thay!!! Chư Đệ-tử  vững lòng tu thiệt, vẹn phận thành chơn, nay Lão giáng Đàn cạn phân hai chữ "CHƠN-LÝ" đặng  chung nhau học hỏi rõ tường Đạo-đức chánh-chơn đó.

Chư-hiền, Chơn-Lý là lẽ thiệt, đó là: Đạo-Thể, Đạo-Tướng, Đạo-Dụng, Đạo-Nguyên, gồm là Chơn-Lý; ấy người tu phải trọn Lý-chơn, thông Thiên-lý, mới trọn bền Nguơn-khí; Lẽ-thiệt huờn Thiệt-lẽ là: Thể, Đạo, Tướng, hình tướng, người nghề-nghiệp đều dùng Chánh-đạo Chơn-tâm ký lý, sát cường tâm, mỗi điều đều dụng Đạo lập Sự là:

Đạo-tướng, Đạo-thể: đứng, đi, cười, nói đừng cho mất Đạo.

Đạo-Dụng, mỗi khi gầy dựng từ ngôi-vị phụng thờ cho tròn lý Đạo hòa tâm chí hiệp, không thái-quá, không bất-cập. 

Đạo-Nguyên, Lý, Thể, Vật, Sự gồm lại đủ Bát-bửu, Tứ-qui là: Trung, Tín, Hiếu, Đễ, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ là Tân-dân Minh-đức; ấy gọi Nhơn-trí tri lương, sát Tam-độc, trừ Lục-dục, diệt Thất-tình, thâu Tứ-tường, ngăn Ngũ-tặc; thiền Tâm thiêng, kiền Tánh phóng, dứt Ý mê, định thần độc trí, chủ ư tâm-lý, huệ chơn thâu chánh, dựng ký Đạo-đức Tánh Tâm, thông Tam-lý, cảm ứng kỳ thanh lý, Trung-dung định kỳ Tâm-đạo là ôn hòa, giác mê thoát ý dục, khải Từ-bi, kỳ Tăng-nhựt, thành Huỳnh-trí hiệp lương đáo tri minh Tứ-đức gọi: Lương-tâm, Tri, Năng Thiên-lương; chiếu Ngũ-Chơn: Chơn-thân, Chơn-ngữ, Chơn-ý, Chơn-tánh, Chơn-tâm. Trí-huệ duy duy; khải Lục-thông thức thân đa trược; Thông-lý tu thân, thức thể đa kiêu; Thông-huệ tu thế, thức khẩu đa mỵ ngữ; Thông-trí tu ngôn, thức ý đa dục; Thông-chơn tịnh dục, ý thức tâm đa thiêng luyến thế quyền; Thông-chánh pháp tu tâm, hòa tín trực, thâu tánh thệ chánh qui, sát lý trí tục phàm, định Lý-chơn là lập qui-y huệ-diệu là Chơn-tâm như như bất động, Chơn-tánh ký ký bất vọng, Chơn-ý thành thành bất dục, Chơn-thân trí trí bất tham, Chơn-thể duy duy bất vị, Chơn-nghiệp trực trực bất tà, Chơn-kiến thức quang từ từ bất lụy. Đây là Chơn-Lý là vậy.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn. 

THI

DIỆU-THIỆN khai Chơn-Lý trọn thanh
LA tâm HÁN lý rõ Môn-sanh
PHỔ thông TẾ chánh cơn nầy phận
THIÊN lý TÔN Thần thấu mối-manh.

Mừng Chư-hiền, Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo chỉ phân hai chữ "THIÊN-LÝ" đây học mà dò phăng cho trúng nhịp đó Chư-hiền. 

Thiên-Lý: Thiên Công-huệ, Lý Công-tâm, Huệ-tâm tường Thiên-chơn, ấy  là Thiên-Lý. Thiên-Lý vô hình, kiến Lý tường Thiên-Thể, người biết người tại sao mà có, tại sao? Hiểu, biết, khôn, dại, nên, hư, đau, mạnh đó là do Lý; là do khi người tạo ban sơ lành, dữ, tội, phước, thanh, trược thì lý do nguyên kỳ gọi là báo ứng; có báo ứng mà không ai xây kết đón ngăn cản đặng, không tư, không vị, ấy là Thiên-công, Thiên-công rất sáng tức là Huệ-điển, phận người nhìn vào đó hành y, kiên cố, đặng trọn vậy là: do lý Công-tâm, hoàng tương lý do, kiến trúc là: Huệ Thần Minh Diệu khí, tâm tồn Thiên-Lý là vậy.

Ngày trước  TRỌNG-NI  có than rằng:

Thiên-cơ khải lý chiếu đời mù
Phàm-tục mờ mờ cậy thói ngu
Cứ tưởng đời hay quên báo ứng
Sa vào Lục-đạo muốn Trời Thu.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại  Chưởng-Quản in ra, đến ngày 28 nhuần Đinh-Dậu đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái tại Ngũ-Hành-Tòa, trong đó học chung mà xét lý. Thiên-Sư  lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giải nghĩa: NGŨ-GIÁI

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 25 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (9 giờ tối)

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT  Răn.

THI

NHIÊN điềm nhiên mãi Đạo không rồi
KỲ hẹn qua thời lý bỏ trôi
CỔ vãng Kim lai nên chí quyết
PHẬT, Tiên, Thánh, Giáo chẳng yên ngồi.

Nầy Chư Đệ-tử định-tâm nghe Lão phân cạn hai chữ "NGŨ-GIÁI" đây định-tâm học lý xét mình cho tròn người Đạo-Đức tu-hành.

1. Định-tâm kiêng tánh sát sanh vẹn lòng Bác-ái, giàu lòng Từ-bi, thoát chỗ luân-hồi vay trả, là thanh phương nhơn-hậu, thuận xuôi về lý, rõ Đức thông chơn. Hai chữ “Sát-Sanh” dị kỳ đoan báu, sát vật nhơn, vật nhơn sát; lòng người tham nhục, Ý vọng đa mê, thân phàm đa hãm, thì Tánh đức càng tiêu, Tâm chơn lũng đoạn, trược khí xung cang, càng như vậy Linh-quang bị hắc trược phủ che tối tăm vô gián, mất khí sáng Thanh-Thiên, khí trược vun đầy, mãi tâm tồn độc, độc khí đè sâu, rồi Chơn-Nguơn chôn vùi, mất hẳn Đạo người là nhơn-hậu nhào lộn chẳng hay, đảo điên là vậy.

2. Định-tâm kiên giữ Chơn-qui, diệt tánh tham, ý vọng, thoát khỏi si cuồng bạc nhược, xa nơi giả dối, thông chơn trí nghĩa, tránh ra cho khỏi du Đạo lang tâm hắc tịch, vẹn gìn trọn giữ Tứ-tri, thì Tứ-phi bất đáo, thậm trứ dương thanh nghĩa trí, tường quang âm chất, tri trí thành nhơn là đó.

3. Kiên tâm cố phận, Chủ-Tể quang-minh, chơn tâm kỳ Đạo, tránh ra cho khỏi tà-tây dâm díu, vẹn vậy quảng ký nhơn-luân, thông minh trí lý, tục mỹ lương-thuần, thới thanh vị nghĩa, Đạo người thậm trọng đó, cõi Trung-giái Đạo người là Chúa muôn loài, thì cần gìn giữ tròn Bốn-ơn đức rạng là: ơn Trời Đất, ơn Cha Mẹ, ơn Thầy dạy, ơn Phong-cương Thủy Thổ; rành Năm-nghĩa là: Nhơn-luân, Cha trọn thương, Con trọn thuận, Chồng Vợ  trọn an trọn hòa, Vua Tôi trọn ngay trọn sáng, Anh Em trọn thiệt trọn xuôi, Bậu Bạn trọn tin trọn cậy; vậy rồi mới vẹn tục thanh ký mỹ, phong mỹ vị thuần, thạnh thanh Chơn-Lý đó.

4. Phận người tu định-tâm nhìn Đạo, lập hạnh  dứt hẳn Tửu-nhục là trọn Đức. Còn tửu là còn Sân, còn hãm nhục là còn Si vọng, phải mất hậu đức, vướng vào Huệ-Luật phạt răn, luân-hồi lôi cuốn, tâm loạn do tửu nhập, tâm xung can phát hỏa, nhục nhập tỳ, tỳ luyến vị vọng si, tỳ suy thận dục hắc ái; đa ái dục diệt Thần, tản nguơn, vong Tinh, sát Khí là đó.

5. Là phận người tu tròn Đạo-đức, Kiến-chánh, Ngôn-chơn, gọi Ngũ-Quang, lập thành chánh Đạo, là siêu đọa do chỗ lời nói, độ người về Đạo tu-hành chánh-chơn trọn thiệt thì Người thiệt, Ta thiệt; Ta Người là thiệt Đạo, đây là siêu; gọi khá dùng lời nói hưng thạnh, Trời ban huệ lành, hưởng đặng huệ lành là thanh phước, gọi hết tội; chẳng khá dùng lời nói trọng trược, phải tan hết huệ lành của Trời ban, ấy là họa đến vậy. Đạo người là Ta với Người, còn Người là hình vật mà mất Đạo, tức Người mất Ta bởi nơi vọng tâm động ngữ vô chơn là vậy đó; người gìn giữ nhơn-nghĩa, Đạo-đức chánh-chơn tròn, thì lý tu vẹn phận đó Chư-hiền.

NGÂM RẰNG

Đạo Nghĩa nhơn-luân trí vị đầu
Đức tài tâm vẹn Tín bền lâu
Lễ thông kỉnh trọn Trung hòa chánh
Hiếu, Đễ, Liêm, tường khỏi Sỉ âu.

      MƯU, bài nầy Đệ-tử giao lại Chưởng-Quản in  ra đặng đến ngày 29 tháng 9 đến đây đọc trước Đạo-Tràng Bát-Quái đặng chung trong lớp học nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

  NGỌC-CHƠN-QUÂN 

******************

Giải nghĩa: TAM-QUI, TAM-TÀI, TAM-THỪA

VÔ-VI  DIỆU-LÝ  KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (1 giờ chiều)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN 

THI

HUỆ chơn khải chánh giác đời thanh
ĐĂNG diệu chiếu huy thế trọn lành
CỔ vãng Kim như tường thượng-trí
PHẬT Tiên cứu độ chữ trung-thành
CHƯỞNG nhơn hậu nghĩa thông Tam-đạt
GIÁO lý diệu hoằng Tứ-đức sanh
ĐẠI-Đạo THIÊN khai truyền Ngũ-xứ
Cao-Đài TÔN hiệp thống hòa danh.

Bổn-Sư mừng Chư Đệ-tử, định-tâm nghe Bổn-Sư ban truyền hai chữ "TAM-QUI". 

Tam-Qui là: 

1. Nhứt-Tâm Qui-Hướng Thầy Trời, thì phải vưng nghe trọn lời khuyên răn dạy dỗ, vậy mới trọn  Môn-đệ của Cao-Minh, Giáo-chơn hành thiệt.

2. Nhứt-Tâm Qui-Hướng Chơn-Lý, thì định-tâm nhìn Trời chơn chủ, rõ lý chánh-minh, liền thọ học trác thân tường huệ hòa lý lập chí trác chơn kỳ thân Tứ-phận, vậy là xứng phận Môn-đệ của Cao-Giáo Thiên-cơ.

3. Nhứt-Tâm Qui-Hướng Thánh, thì biết hay  lý sáng xét mình rõ sáng, gọi học rõ tâm còn sáng, người biết thân xét phận vuông tròn, về thiệt, về ngay, mới đến nơi thanh phận, là Thánh-tâm, vậy mới trọn phận Môn-sanh của Ngọc-Đế, Chúa muôn loài Đạo người vẹn vậy.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn. 

THI

DÀ-LAM phất thế thấu lầm sai
CHƠN-TỂ chí-chơn vẹn trí-tài
QUAN-THÁNH tường quang thông huệ khiết
ĐẾ-QUÂN an vị rảnh Bi-ai.

Mừng Chư-hiền, hiện nay chung lớp học định-tâm nghe Bần-Đạo ban truyền hai chữ "TAM-TÀI".

Tam-Tài là: Tam-Quang. Tài kỳ dã là Đạo rõ  người, người trọn Đạo, rõ Trời là Chủ Tạo-Hóa, thưởng phạt Công-bình, sanh-sát chí-chơn, tồn vong chí-chánh, ấy là Trời Chủ, gọi là lý.

Lý sáng đương nhiên, vô-thiêng bất-xú, rạng danh trên hết ấy là Trời, Đạo người nhìn Trời gương huệ, tâm cảm ứng chầu, chung nhau trọn vậy, tức thị an hòa, thuận xuôi trọn thiệt, siêu tồn đồng qui, chung thanh tri kỷ, ấy là sanh lý, gọi nhìn Trời hòa sanh, gọi Trời Sanh là vậy.

Đây là phận người vẹn sáng, gọi như như, nhơn trí hậu chơn, nhơn tri hậu chánh, gọi ký kỳ minh, nhơn húy kỳ quang, rồi rõ thông vận-mạng, cơ-vận hóa truyền, mạng trí huỳnh trung, người thông vận-mạng, gọi rõ thông hóa vận tri thức, thể hóa sanh, rõ thông phận sự, khí vị thông tri gọi Thiên sanh khí, Địa hóa thể, Nhơn hòa lý, vẹn phận chơn-như, là tâm trọn bằng, lập thành thống chơn, tài tri chánh-pháp, mỗi sự đều chơn. 

Trời huyền-linh chơn-khuyết; Người thận-độc chơn-như; Đất thinh-huy chơn-dốc, ấy là dụng.

+ Trời chơn-không, là Nhị thái Âm Dương.
+ Người Chơn-công lưỡng-quang Chủ-Tể, gọi thận-độc kích-cù.
+ Đất chơn-khinh là hóa-vận gọi lở, bồi, thêm bớt, tăng diệt. 

Trời có Tam-quang hòa bửu: Thái-Dương vận, Thái-Âm chuyển, khiết kim duy gọi Nhựt, Nguyệt, Tinh duy. 

Nhơn hữu Tam-Nguơn: Tinh, Khí, Thần định ký hòa Thiên. Tam-Nguơn Thần chí bửu, thông ký Nguơn-Tinh, chiết xảo Tinh chí bửu tồn Nguơn, thông ký huy huy thọ ký Nguơn-Thanh, giáo thông bổn chất, tiên hậu tường chơn, thỉ-chung tri trí, đặng trọn chí hòa đồng.

Tề Thủy tịnh gọi mưa hòa, xuân sanh; Phong mỹ, thể thơ thới trung qui gọi gió thuận; mưa hòa gió thuận thể Ta Người chung một Lửa êm.

Đồng tế Trời ban phước, Người trọn vưng ấy là Thiên-thời tế vận, Nhơn ứng thọ triêm, Thể Lý phong cương, bình an võ-trụ, trưởng dưỡng muôn loài hóa tăng thanh thể, do chỗ khí trược thiểu xung, muôn linh vững hằng vô động, gọi là Địa-lợi. 

Muốn gặp lý Thiên-thời, thể Địa-lợi, thì phận Người phải hòa tâm tánh mặc, thọ tri Thiên-lý, húy ngưỡng Cao Kiên, thức thân giác phận, ký vị nhượng lộc, tịnh du, sát dục kỷ, tế đức quang, trọn nhau như vậy là vẹn Tam-Tài trên thế sự, vẹn thanh phương đó là Tam-Tài thuận lý, tri trí bền trung, Đạo thông đức rạng là Địa-cầu thanh phương, Kiền Khôn bình lý là Đạo vậy đó.    

1. là biết Trời Độc-Nhứt vô Nhị.

2. là Lý Thể tương ứng, biết Tạo-Hóa Vô-tư gọi Trời Đất, thiện ác chứng minh, phận người không sót.

3. là Trung-khí thanh phù diêm triệt, thì có hai lẽ siêu, tồn do tâm tạo, thưởng phạt nhứt qui, khuôn viên tri mẫu trí cũ; Chư-hiền vẹn đó gọi  thông Tam-giới, là phận người vẹn Đạo-tâm thông Ba-lý răn mình là vậy.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn. 

THI

DIỆU-Minh lý thiệt rõ chơn thành
THIỆN niệm tâm tồn thấu mối-manh
LA cảnh Tiên chơn triều Thượng-chủ
HÁN thanh Địa thống lý trung thanh
PHỔ thông lời Đạo, Đời chung học
TẾ lý cứu nguy rạng Thánh-danh
THIÊN hoán trần-ai trao Phật ngõ
TÔN nguồn thiện dụ Sĩ-hiền Anh.

Bần-Đạo mừng Chư-hiền, Chư Hiền-sĩ định-tâm nghe Bần-Đạo truyền ban hai chữ "TAM-THỪA" đây chung nhau gìn giữ cho tròn chữ tu, Thánh tâm tri Đạo đó Chư-hiền.

Tam-Thừa là ba bực:

1. Hạ-Thừa: là khi vừa trưởng tánh dưỡng tâm tri Đạo, lập chí tu thân thì phải dưỡng tinh thần, muốn dưỡng tinh thần thì ly vật-chất, muốn ly vật-chất thì: Tâm, Tánh, Ý, Khẩu, Nhãn, Nhĩ đồng tịnh dục cấu, thâu Nguơn-qui, thì phải nhịn, nhịn nhiều đức nhiều; Tâm, Tánh, Ý đồng nhịn, chung lại gọi tu thân, đặng vậy gọi thọ chơn Cao-Tăng trì chánh đó, trưởng dưỡng tinh thần ngày thạnh thêm thạnh đó là vẹn Bác-ái, Bác-ái vẹn gọi tồn Đạo-tâm trung.

2.  Trung-Thừa: duy háo là Đạo-Trung.

3. Thượng-Thừa: bác lý cầu nhiêu, nhịn tri lương huệ là vẹn hưu, vẹn Đạo-Trung rồi muôn sự vật nặng nề đều thôi, mưu sâu chước độc đều bỏ, thế cuộc vô ưu, rực rằn nha lự, xem lý xét phận khít khao, một mảy chẳng xao, một hào không động, phận Tam-Thừa là vậy.

NGÂM RẰNG

Cuộc đời thế sự nặng hoằng
Bớ ai mau tỉnh đặng dằn tánh Tham
Lá lay bỏ chánh nhìn hàm
Vì Si thiếu huệ, Sân làm tổn lương.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại  Chưởng-Quản in ra, đến ngày 29 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 đọc sau giờ Đạo-Tràng Bát-Quái tại Ngũ-Hành-Tòa. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

 -Thăng-

  NGỌC-CHƠN-QUÂN  

***************************