Chư-hiền Nam Nữ, định-tâm xét phận do phận sự của mình lãnh phần giác-lý phổ-truyền Thiên-Đạo trong các Ban, Bộ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 7 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ chiều)

-------o0o-------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN quang chiếu rọi cõi trần ai
KỲ xúc cảm Chơn-Lý ứng hay
CỔ vãng Từ-bi Trung-thứ hậu
PHẬT thường giác thế diệu huyền thay.

Bần-Đạo chào mừng chư Hiền-sĩ định-tâm nghe Bần-Đạo giảng dạy đây mà gìn học cho tròn qui củ chơn truyền.

Từ đây THU Hiền-sĩ, chỉnh đốn bài giải nghĩa mấy lớp học Cao-Cấp Vô-Vi Diệu-Lý; lớp học Cao-Huấn Khải-Thông; lớp học Cao-Cấp Nữ-Oa sắp vào một bổn. Đạo-Tràng Bát-Quái Huệ-Luật Diệu-hành sắp vào một bổn. Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường sắp vào một bổn.

Đề hiệu như vầy:

- Từ lớp học Vô-Vi Diệu-Lý, Cao-Huấn Khải-Thông, Nữ-Oa Cao-Cấp đề: THIÊN-ĐẠO CHƠN-TRUYỀN VÔ-VI THÁNH-LUẬT.

- Đạo-Tràng Bát-Quái đề: THIÊN-ĐẠO LÝ-TRUYỀN HUỆ-LUẬT PHÁP-CHƠN.

- Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường đề: ĐẠI-ĐẠO QUI-NGUYÊN CAO-ĐÀI NHỨT-BỔN, CHƠN-CHÁNH DIỆU-HÀNH TRUNG-THIÊN NHIỆM-LUẬT.

THU, Hiền-sĩ truyền ban cho Tam-Bảo, Ngũ-Hành Thiên-Sư sắp sang tròn vẹn ba Bộ Luật chờ lịnh dưng đến Bửu-Thơ Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài chỉnh đốn ban truyền; Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài ấn tống. Trước ấn hành dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi xem xét, Thiên-Sắc điểm ban.

Hiền-sĩ truyền cho Tam-Bảo Tinh-Duy, Ngũ-Hành Thiên-Sư soạn mỗi bài Thánh-Huấn, Thánh-Giáo Thầy dạy từ Ất-Mùi đến đây về thoát tục, cùng trật tự sắp vào Luật-Bình-Quân nối hậu.

Từ đây mỗi Luật, Lịnh, Bài, Khuôn đồng phải dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi đặng Thầy ban danh điểm lý.

Nầy Chư-hiền chung nhau về nhiệm kỳ La-Hán thuộc Hiệp-Thiên-Đài phận sự, cùng Thiên-lý, từ đây ráng vẹn vẻ tâm trung tôn nghiêm cao phụng, đừng hớ hinh rồi điêu động đó Chư-hiền.

Hiện chung nhau Chư-hiền định-tâm nghe lời Bần-Đạo điểm danh ban truyền bổn phận.

1. Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài: soạn bài Thầy dạy Đạo-Thể của Tam-Hồn phải luận giải từ chi tiết. Xong phận đến ngày 14 tháng 3 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm, đặng sau rạng rỡ thinh danh trong Thiên-Đạo Chơn-Truyền Vô-Vi Thánh-Luật đó Hiền-sĩ.

NINH, ĐẮC hai Hiền-sĩ luận giải Đạo-phận Thể, Lý La-Hán Ban Hiệp-Thiên-Đài, ngày 30 tháng 3 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Thầy chấm điểm nêu vào Thánh-Luật cho rạng tỏ đó Hiền.

2. Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài: NGỌC, Hiền-sĩ sắp sang khuôn-mẫu nền nhơn Trung-Thiên Thánh-cuộc Đền Thờ đến mỗi văn-phòng, khuôn-viên từng tiểu tiết, rồi dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm cho rạng tỏ thinh danh trong Đại-Đạo Qui-Nguyên Cao-Đài Nhứt-Bổn, Chơn-chánh Diệu-Hành Trung-Thiên Nhiệm-Luật đó Hiền-sĩ. Soạn rồi đến ngày 14 tháng 3 Mậu-Tuất chuyển dưng.

3. TÂM Hiền-sĩ; TUẤN, BỜ, Tam-nhơn Hiền-sĩ: soạn lời tiên-tri cơ-vận từ Nhứt-Tiểu Thời-kỳ nhứt niên Đại-Đạo đến đây. Ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm đặng nêu vào Thiên-Đạo Chơn-Truyền Vô-Vi Thánh-Luật đó chư Hiền-sĩ, gọi thinh danh thượng lưu hạ cố.

4. BIỆN, Hiền-sĩ luận giải Đạo-phục Thể cấp của Chưởng-Quản từ mỗi tư tiết cho rành. Đến ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm đặng nêu vào Thánh-Luật.

5. SÁU, Hiền-sĩ luận giải Đạo-phục Thể, Lý khuôn hành chào đáp của Tam-Bảo Chánh, Phó cho rành. Ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm đặng nêu vào Thánh-Luật.

6. THỐNG, Hiền-sĩ soạn luận giải Đạo-phục cấp phẩm Lý, Thể từ Tứ-Bửu, Thiên-Sư, Nam-Tào, Bắc-Đẩu. Ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Thánh-Luật, tỏ rạng thanh danh Đạo-Lý đó Hiền-sĩ.

7. THẠCH Hiền-sĩ, mừng Hiền-sĩ luận giải Đạo-Thể Y, Quan cấp phẩm từ Đạo-Hữu đến Đại-Thiên-Phong cho rành phận sự. Đến ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật.

8. HƯƠNG, Hiền-sĩ luận giải Đạo-Thể một bài từ Tam-Tông Nhị-Dụng Hình-Đài. Đến ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Thầy chấm điểm đặng nêu vào Nhiệm-Luật đó Hiền-sĩ.

9. HIỆP, Hiền-sĩ luận giải một bài từ Tam-Thanh Đầu-Sư, Tứ-Bửu Hội-Thánh đến Ngũ-Hiệp-Quang, Lai-Tín, Hiến-Tín. Đến ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm đặng nêu vào Nhiệm-Luật đó Hiền-sĩ.

10. Ngũ-Hành Thiên-Sư, chung nhau luận giải Đạo-phục Y, Quan thể tướng cấp phẩm Thời-Quân, Tứ-Phối. Đến ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm đặng nêu vào Huệ-Luật Pháp-Chơn.

11. CỘI, Hiền-sĩ luận giải Đạo-phận Nguyệt-Tướng từ tiểu tiết. Đến ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Huệ-Luật Pháp-Chơn.

12. THẢO, Hiền-sĩ luận giải Đạo-phận Thể, Lý Giáo-Tập. Ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật.

13. HIẾU, Hiền-sĩ luận giải Đạo-phận Thể, Lý Trị-Đàn quang minh trí dũng. Đến ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Trung-Thiên Nhiệm-Luật.

14. HIẾM, luận giải Đạo-phận Thể, Lý Đồng-Nhi đến Giám-Sanh. Ngày 9 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Thầy chấm điểm nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật.

* Đây về Nữ-phái, mừng Thiên-giáo ban truyền. Vậy từ đây rạng rỡ thinh danh.

15. NHÂM, Hiền-sĩ cô nhân, luận giải Đạo-phận Lý, Thể Đầu-Sư, Viện-Trưởng, tuần tuần tiểu tiết. Đến ngày 6 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Tây-Cung Thiên-Mẫu chấm điểm nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật nối hậu chơn truyền.

16. SẮC, luận giải Đạo-phận Giáo-Tập. Ngày 6 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi, Thầy chấm điểm nêu vào Thánh-Luật.

17. HAI, Hiền-Cô luận giải Đạo-Cô Quang-Lý, Đạo-phận Lý, Thể. Ngày 6 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Thiên chấm điểm nêu vào Thánh-Luật.

18. TRÂM, luận giải Hạnh-nữ Đạo-phận cấp phẩm Đồng-Nhi đến Giám-Sanh, dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi, Linh-Tiêu chấm điểm nêu vào Thánh-Luật.

19. KIỂN, THÌNH luận giải Đạo-phận Trị-Đàn Nữ-phái. Ngày 6 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Cung chấm điểm nêu vào Thánh-Luật.

20. HỚN, TÀI, LƯỠNG, LIỄU luận giải Đạo-phận từ Đạo-Hữu đến Giáo-Hữu Nữ-phái cho rành cấp phẩm. Ngày 6 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Cung chấm điểm nêu vào Thánh-Luật Hậu-Truyền.

ĐẨU, LƯỢNG luận giải Đạo-phận Thiên-ban từ Giáo-Sư đến Chánh-Phối-Sư cho rành, dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Vương điểm phận nêu vào Thánh-Luật.

THẤT, CẢNH, TÔN, HIỆP luận giải Ngôi-vị Cửu-Cung cùng Ảnh-phụng từ tiểu tiết. Ngày 6 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Cung điểm phận nêu vào Thánh-Luật.

21. NĂM, CHO, NỐI, PHƯỚC, NẾT luận giải Cửu-Liên-Châu Đăng-Huệ. Ngày 6 tháng 4 Mậu-Tuất dưng về Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi Tây-Cung chấm điểm nêu danh ban lý nơi Thánh-Luật.

22. SÁU, Hiền-Cô Nhơn-sĩ, luận giải Nữ-Điện Liên-Oa, Liên-Đằng Ngôi-Vị. Ngày 6 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Vương ban điểm thinh danh nêu vào Thánh-Luật Hậu-Truyền đó.

23. PHƯỚC, Hiền-Cô Nhân-sĩ, luận giải phận sự Thơ-Ký cho rành. Ngày 6 tháng 4 dưng về Hiệp-Thiên-Đài Tây-Cung chấm điểm nêu vào Nhiệm-Luật.

Vậy từ đây Chư-hiền Nam Nữ, định-tâm xét phận do phận sự của mình lãnh phần giác-lý phổ-truyền Thiên-Đạo trong các Ban, Bộ dầu Nam Nữ có trọng trách luận giải một bài gọi tri phận sự. Ngày 14 tháng 4 lễ Long-Hoa kỷ niệm dưng về Hiệp-Thiên-Đài Thầy ban ơn chấm điểm rõ thông phận sự thinh danh rạng tỏ trong Trung-Thiên Nhiệm, Thánh-Luật, đó Chư-hiền. Giờ đây Bần-Đạo xin kiếu.

THI

Thiên-sắc ban phong trí phận trò
Chư-hiền Nam Nữ vẹn lòng lo
Thọ ân xây đắp nền Chơn-Đạo
Ráng trọn thuận hòa vững lái đò.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức Thiên-Chơn, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra đến ngày 9 tháng 3 Mậu-Tuất đến đây đọc trước giờ Đạo-Tràng Diệu-Linh-Đền, đặng kỳ trung Thiên-Lý thọ giác hướng đồ. Chưởng-Quản Chuẩn-y Sắc-lịnh Ban-truyền, gởi cho mỗi ai có danh điểm đây mỗi Hiền một bổn, lo phận cho tròn chớ nên trễ thiếu đó mỗi Hiền Nam Nữ. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

TÍN-NGƯỠNG, CHƠN-NGUƠN, NHÃN-TÂM, TÂM-NHÃN

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 8 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-thần mới tỉnh khỏi mê mù
ĐĂNG chiếu tứ phương trí vị du
CỔ đắc công tâm kim diệu huệ
PHẬT Tiên thống đạt tín uy thu.

Mừng chư Đệ-tử, Bổn-Sư lâm Đàn ban truyền hai chữ “TÍN-NGƯỠNG”. Vậy chư Đệ-tử định-tâm học lý. Tín thông chơn tín, Tín trị tâm thiêng, Tín uy giác thế, Tín thọ tâm trung, kỳ chơn Tín tịnh, tâm định Tín minh, Tín tri khiêm hạnh; gọi Tín hòa chơn chánh Tín tri Tin. Ngưỡng tiền tri hậu, Ngưỡng húy giác thân, gọi tinh thần lương hiệp, Chơn Tín Ngưỡng quang. Ấy là Tín-Ngưỡng.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

Bần-Đạo mừng chư Hiền-sĩ. Vậy chư Hiền-sĩ định-tâm Bần-Đạo ban truyền hai chữ: “CHƠN-NGUƠN”. Chơn-Nguơn là nguồn sáng. Chơn-Nguơn là Bổn-giác, Chơn nghĩa thiệt, Nguơn nghĩa đầu, trước hết là thiệt, thiệt là chủ sự vật, lý, thể định xem xét qui khai, thiệt đầu mỗi mỗi gọi Linh. Linh đủ hay, hiểu, quên, nhớ, gọi đầu đề mỗi mỗi, tồn, vong của muôn loài gọi Hồn. Hồn tinh anh sáng suốt, gọi Anh-Hồn. Hồn của sự, vật, thể cử động, là Thần-Hồn gọi hữu vi, Hồn thanh bạch không nặng nề tối tăm, biết bình trị tri lương giác sự, trí vật, ấy hồn Linh. Gồm đủ Tam-Nguơn gọi Tam-Hồn, tồn lương tâm thiệt tin đó là Bổn-Giác, gọi người ta. Người ta vẹn đủ Chơn-Nguơn đó là trọn Linh, đặng hơn muôn loài thể thấy đây là vậy.


DIỆU-THIỆN BỒ-TÁT PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

Bần-Đạo chào mừng Chư-hiền, hiện giờ chung nhau học Đạo, hãy định-tâm nghe Bần-Đạo truyền ban hai chữ “NHÃN-TÂM”.

Nhãn định Tâm thâu, lưỡng quang do nhứt định là Chủ-Tể. Đức Chí-Tôn ban dạy Chư-hiền điểm ra chơn thể Nhãn-Tâm tượng trưng chiêm ngưỡng, nghĩa là Tiên-Thiên chơn tín đó, là Nhứt-Cực Hư-Vô, thể đình huờn trung chủ. Không-Hư là Thái-Cực, ấy là Độc-Nhứt, trước trên hết của muôn loài, là cái trước đầu, đầu là chủ bộ Tiên-Thiên của sự sống muôn vật trên cõi thế gian gồm là chỗ một vậy. Lý là định, loài người hay bình linh, dầu sáng, tối, nên, hư cũng do định là trước; đó là Bổn-Nhứt, lý Chơn-Nguơn là đó.

Về Đạo-lý hay Đạo người, Đạo-đức đồng phải có ba, Nhứt-Tiểu Thời-Kỳ Thầy dạy thể con Mắt, Trí tả kỳ Dương, Tín hữu kỳ Âm, chiêm ngưỡng giác định. Đó là mới khai nên phải dùng Ngôi-Hai Thể, Lý qui Âm, Dương hiệp nhứt hoát khởi Càn Khôn, sanh sanh hóa hóa chủ ư kỳ Đạo.

Gọi Thần-Mục Quang-Minh Tợ Điển là vậy đó.

Lần lần Cơ chuyển Lý khai, Đạo tròn Lý mở, Đức Chí-Tôn truyền dạy “TÂM-NHÃN”, là tượng thể con mắt, bề trong không chơn mày, không lông nheo, Tâm định nhãn quang, tinh thần tâm trí Vô-Vi nhi-trị tâm phàm. Đó là Trung-Thiên, gọi Không hòa Hư, lý Vô-Cực, Tánh giác Tâm, Tâm trị Tánh, Hậu-Thiên Nhơn-Đạo là đó. Chuyển đến Tam-Tiểu, gọi lý Tiên-Thiên, là Nhãn Thị Chủ Tâm, Tam-Lương hòa nhứt. Người Ta, Đất, Trời, Đạo-Đức một ngôi, một lời, một thể, chiêm tồn, ngưỡng tín, định chơn là đó. Xem thấy tâm định làm y, gọi Nhãn là Tâm, Tâm ấy là Trời, Thiệt gọi Tinh, Tinh là Thần, Thần Thiệt là Lý. Lý là Trời, chỗ sáng suốt tánh kỳ quang, gọi phân minh, chủ đó gọi Trời.

Còn tượng trưng năm màu, lý chiêm ngưỡng răn trị năm tà nơi lòng, trở lại năm lành; Tâm, Tánh, Ý, Mắt, Tai trở nên chí mỹ. Thân thể xây nền chánh nghiệp, là chí thiện, sự vật là có. Phải xem thể có đó gọi phong anh, mây cảnh, sửa đen về đến trắng. Lưỡng đó gọi mây lành, lý là chánh nghiệp của Đạo-Người, là thể vậy đó. Chánh thể, thể nghĩa vẽ đồ lý chánh tượng trưng, chiêm tâm ngưỡng hành chánh, chánh hòa thể thân trở lại tồn chơn là Chơn-Lý. Chơn hữu lý, lý khai chơn do xem xét, biết, hay đều gồm lại chơn, rồi hành chánh, gọi người chánh thể. Ta Chơn-nguơn gồm Chơn-giác, gọi Chơn-thần bình Chơn-đạo, Cảm-ứng hòa Trung-dung, Công-bình tri giác ấy là Đạo. Đạo do tâm, tâm tri giác, gọi xem lý xét phận lý hiệp gọi gồm khai Nhãn-Tâm Chơn-Lý là đó.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, Cửu-Tý Thiên-Chơn, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng nơi Diệu-Linh-Đền đây đặng nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Dạy chỉ lý thiệt, nguồn chơn, thông tri ngôi vị

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (6 giờ chiều.

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ điển rọi đêm đặng phá mù
ĐĂNG tường chiếu diệu lý Xuân Thu
CỔ Kim hồi hướng hòa tâm lý
PHẬT độ đời mê nhớ phận tu.

Bổn-Sư mừng chư Đệ-tử trong lớp học Cao-Huấn hiện giờ chung vẹn đồng đây, định-tâm nghe Bổn-Sư dạy chỉ lý thiệt, nguồn chơn, thông tri ngôi vị, dễ bề tín ngưỡng tỉnh tâm đó Đệ-tử.

Ngôi vị phụng thờ là lý tượng trưng, thể dụng hiện hành, hốt-chiêm ngưỡng sự trí-tri. Khuôn đèn Thập-Ngũ Linh-Đăng, 5 tấc tam giác. Đây là Tam-Ngũ huờn nguyên, khuôn thành mẫu hiệp vận hành, 15 ngọn đèn:

1. Là Nhứt-Cực Huyền-Quang.
2. Lưỡng-Nghi Nhị-khí Âm Dương chiếu diệu.
3. Là kế Tam-Tài thuận nghĩa hòa tinh.
4. Là kế Tứ-qui Bửu-định.
5. Kế Ngũ-Hành lưu thông vận chuyển Thiên-lý ứng hành, sanh sanh hóa hóa, qui nhứt là Càn Khôn võ-trụ phẩm-nghi. Trong số năm chấm điểm Trung-Ương là Trung-bình, Chí-công, Chí-chánh, lý Khai-Thiên là Tam-Ngũ thanh phù.

+ Nhứt-Ngũ là:

1. Huyền-Linh.
2. Khí-Quang.
3. Huyền-Quang.
4. Hoàng-Yên.
5. Huỳnh-Quang.

Hoàn trung Hư-vô Bí-diệu, trược phù.

+ Nhị-Ngũ Tịch-Địa là:

1. Hóa Trí Tri Nhơn.
2. Hóa Dục Nan Vật.
3. Hóa Thân Kiện Cảnh.
4. Hóa Thủy Thành Sơn.
5. Hóa Súc Tượng Cầm, du hành vạn loại.

+ Tam-Ngũ là Đạo-Chơn:

1. Nhơn hòa Hậu.
2. Lý hòaThể.
3. Thân hòa Phận.
4. Diêm hòa Phù, gọi Hồn hòa Xác.
5. Trí hòa Tín, gọi Đạo hòa Đức.

Lý hằng tâm, tượng khai chiêm-ngưỡng là đó.

Chung qui Nhứt-Cực Sanh; Âm-Dương Hóa; Tam-Tài Thông; Tứ-Tượng Định; Ngũ-Hành Lưu là: Sanh, Hóa, Thông, Định, Lưu. Từ-Bi Sanh; Bác-Ái Hóa; Công-Bình Thông; Trung-Thứ Định; Cảm-Ứng Lưu. Hòa Khí-thanh, thành Thanh-khí. Lý là: Nguơn-Hanh hòa Nhơn-Hậu, Càn thuận Thiên, Lợi-Trinh hòa Nghĩa-Đức. Khôn trí Địa, Lễ thuận Trí, đạt Tín-Quang. Gọi là Hư-Vô Vô-Cực, Huyền-Cực, Trời che, Đất chở, Người thương là đó. Chí-Công là Nhơn-Từ, Chí-Chánh là Hạnh-Khiêm, gọi Công-bình ngay thẳng hòa nguyên là đắc nhứt đó.

Về Đông Liên-Hoa, Tây Tựu-Lý, gọi đắc quả, tượng lý Công-bình, trưởng dưỡng tinh-thần, tâm quang quảng huệ gọi tâm phát huệ chiếu rọi màn u, tượng trưng lý sáng, thấu luật Công-bình, vẹn phận mới đắc quả. Liên-Hoa gọi Chơn-Thể Trung Thiên vị lập, Đèn màu Xanh tượng lý Anh-Hồn Chơn-Nguơn Ly trấn; đèn màu Đỏ thể Thần Chơn-Hồn, quảng đại kỳ Nhơn, vị dụng nguyên do thể chơn nguyên thể đó.

Đèn Ngũ-Lý là: trước màu Đỏ, Tâm hòa Đạo kỳ Thiên, gọi Tiên-giác; sau màu Đen, Tánh hòa Đức kỳ Địa, gọi Hậu-cố chánh chơn; Đông màu Xanh Nhãn thuận kỳ Cang, tương hiệp trí-tri; Tây màu Trắng Mũi trị tà kỳ Phế, hòa Tín, Nghĩa; Tứ-Phối hoàn trung kỳ lương đạt, ý vị tường vân, Huỳnh khai tường Thiên Đạo, Tiên minh kỳ Thỉ-thủ, hoàn trí chung thành Đệ-tử gọi Khuôn-Mẫu, Củ-Qui, Khai-Thiên, Tịch-Địa, Diệu-Huệ, Tinh duy, Chơn-Pháp, Tam-Hoàng đó vậy.

THI

Khai-Thiên, Tịch-Địa thống Nhơn-Hòa
Tam-Ngũ hoàn trung Diệu luật ca
Trích yếu Tam-tam, Tam-thập-lục
Địa-cầu Thập-ốc, Thất-nhì đa.

MƯU Đệ-tử, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đặng chung nhau trong lớp học nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung rồi nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật, bài lớp học đây gọi hiện đây.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

NGŨ-LUÂN

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 4 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ tối)

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ lưu tu niệm vẹn về lành
OA phận thể sen rạng Thánh-danh
KIÊM trạch bạch quang thông Phật-vị
MẪU-khuôn tri giác đắc viên thành.

Mừng mỗi con hiện nay chung lớp học Cao-Cấp nơi Liên-Điện, đặng Lịnh Thiên-Tiêu ban lý mở lớp học tập giác thân phụng giáo. Kiêm-Mẫu đáng mừng thay! Vậy chung nhau con cả định-tâm nghe Mẹ ban cho hai chữ “Ngũ-Luân” đây mỗi con.

Ngũ-Luân là năm mối:

1.- là Kỷ-Cương Phong-Hóa.
2.- là Phụ Tử gọi Cha Con.
3.- là Phu Phụ gọi Chồng Vợ.
4.- là Huynh Đệ gọi Anh Em.
5.- là Bằng Hữu gọi Bậu Bạn.

Nghĩa là: Kỷ Phong phải thanh trọn Sáng; Cương Hóa trọn chánh đến Ngay, trên dưới vẹn hòa, thì vẹn gìn Nhơn-hậu, hằng định vẹn lành, lý gọi nền thể Mối thông bọc đùm Giềng xét.

- Về Cha Con nghĩa là Xuôi Thuận. Cha trọn Lành Mối của Con; Con trọn Thảo Giềng của Cha. Vẹn vậy là thường Nghĩa, đó là Đạo.

- Chồng Vợ nghĩa là Kỉnh Mến lý là tân lễ. Chồng trọn Mến Mối của Vợ; Vợ trọn Kỉnh gọi Giềng của Chồng, là thông tân lễ phúc đáp vinh quang là Đạo.

- Anh Em nghĩa là Thuận Nhượng, lý là tường trí. Anh vẹn Thuận Mối dìu dẫn đoàn Em; Em trọn Nhường nương cậy đoàn Anh, gọi Giềng của Anh. Lý gọi tường Trí, vẹn đó là Đạo vậy.

- Bậu Bạn là Tri Âm, lý là Tín-Định. Đồng tri âm gọi tương thân; định xét nhau đừng xa chữ Tín, gọi Giềng Mối tương giao, Lý là Bằng-Hữu, nghĩa đồng thời hòa nhứt giao liên, gọi là Đạo.

Đạo người gìn đây cho trọn, dầu Nam Nữ thường hành. Trời ban Năm-phước hiện hữu, thì phận người khỏi phạm năm điều răn đó trẻ. Gọi trước mắt xem Luật-điều, Tâm trung gìn giữ phận, thì Thân Thể Tánh Tâm đều không phạm, Đạo gọi Ngũ-uẩn Giai-không. Ấy là phương tiện Thần Tiên tạ thế đó mỗi con.

Giờ học hỏi trước đây, mỗi con định nghe Mẹ ban dạy đôi lời, gìn đây gọi là Thánh-Luật Thiên ban, Tâm trung bất lụy, gọi Nữ-sĩ thượng hành, Tiên ban hiện hữu đó.

THI

Bớ con chung cả phận Tài-nhơn
Nữ thiện Đạo thông trỗi Dữ-chơn
Thống lý Mẹ bày rành Hướng-đạo
Năm-châu thế thái thấu Cao-sơn.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy Thiên-Chơn đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Liên-Điện lớp học Cao-Cấp nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra đặng nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

THUẦN-MỸ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 4 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 - 8 giờ tối.

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thân trong sạch Đức hòa Nhơn
LIÊN Điện hương cao ý rạng Chơn
TIÊN định qui-y tường hậu nghĩa
NỮ lưu em hỡi chí keo sơn.

Bổn-Cô mừng chung mỗi em hiện hành trong lớp học vừa rồi, hãy định-tâm nghe Chị ban dạy hai chữ “THUẦN-MỸ” đây mà học hỏi hành y, vẹn đến Nữ-lưu Minh-đức.

Em hỡi, Thuần nghĩa là ròng, Mỹ nghĩa là tốt. Mỗi em muốn tu hành đến nơi tốt tươi ròng sáng, phải gìn giữ Ngũ-quang, gọi Phong-thuần, Tam-nhơn gọi Tục-mỹ, mới thông suốt đương đông, đường lành Nhơn Đức Lý Tân-dân, Thiên-Hoàng khải Lý, Tý khai Nguơn-Hội nữ kiện toàn thanh đó. Ngũ-quang nghĩa Ngũ-thông trừ Ngũ-tặc, Lương minh Hạnh hiếu vị Chơn, gọi tri ân thọ đáp.

1.- Thiên-Ân sanh phúc Ngã, Ngã giác Tâm qui thạnh đáp Cao-Sùng.

Nghĩa là : Đạo làm người hữu linh là biết xét, biết thương, biết nhẫn, dung xá nghĩ tưởng lý Người hiệp Ta gọi Xác vẹn Hồn, Hồn chủ Xác, định Hồn vi chủ, gọi là Ta ấy là: Ơn Trời sanh ta, tượng lý che ta, ta xét phận ta tự tỉnh, thức thiệt, mới nhiều lo bồi đáp chớ quên, vì ơn Trời cao sùng vô cùng tận.

2.- Phụ-Ân sanh Ngã, Ngã giác Tâm qui, thạnh đáp Thinh-Sùng.

Nghĩa là: Ơn Cha ta sanh xác ta, ta xét biết phận sự tỉnh tâm, vẹn mới đừng nguôi, gọi không phui pha, nhiều lo bồi đáp ơn rộng của Cha ta. Vậy vẹn lành Đạo làm con đó.

3.- Mẫu-Ân cúc-dục Ngã, Ngã giác Tâm qui, thạnh đáp Trường-Sùng.

Nghĩa là: Ơn Mẹ ta đẻ xác ta, rồi nuôi ta, ta xét tâm ta hằng lo đừng để lợt lạt, nhiều lo bồi đáp ơn dày của Mẹ ta, mới trọn phận Đạo người làm con chẳng hổ đó.

4.- Sư-Ân giáo phủ Ngã, Ngã giác Tâm-qui, thạnh đáp Đức-Sùng.

Nghĩa là: Ơn Thầy ta dạy bảo, vỗ về cho ta, ta xét mới lòng nhiều lo bồi đáp đức rạng công Thầy, Tâm thờ Tánh thệ. Vẹn đó mới nên phận người tu, chẳng thiếu phận đó.

5.- Kỷ-Cương Ân-trì cố Ngã, Ngã giác Tâm-qui, thạnh đáp Trí-Lập.

Nghĩa là: Mối-giềng đất nước gìn giữ, trật tự săn sóc, chăm nom khuyên bảo ta, ta xét phận ta, nơi tâm đừng vong phản ơn ấy, nhiều lo đền đáp nghĩa sâu. Vậy mới Đạo người tri quang thắng vạn vật đó.

Năm sáng nầy gồm Năm Lý gọi Năm Lành, biết Năm Mối ròng thanh, thân thể chung Tâm phận đó.

Tam-Nhơn là Mỹ-Tục:

1.- là Chánh-Nhơn gọi là Tâm trí kỳ Nhơn, nghĩa là: Đạo người phải vẹn ngay thẳng, muôn sự lý đồng ngay. Ăn, nói, đi, đứng, nằm, ngồi, định nghiệp đồng ngay, gọi là Nhơn-Đức Thánh-Đạo là đó.

2.- là Chơn-Nhơn Lý Tiên-Nhơn, nghĩa là: Đạo người tròn Thiệt, Lý cảm-ứng đồng Thiên, muôn điều cơn hành phận đồng Thiệt, Lý Định, Phán, Thâu, Vãng, Chấp, Di, Hoằng, Hóa, Tế, Trị đều Thiệt, gọi Nguyên-Nhơn Tiên khí, ứng cảm tri Chơn kỳ Đạo là đó.

3.- là Thiên-Nhơn gọi Lương Nhơn tri Mạng, nghĩa là: Đạo người vẹn giác thấu thế hệ nguyên do, mà xử đáng. Ấy là người vẹn thọ mạng vận của Trời ban, muôn điều định-tâm rõ Trời là chủ, không bôi bạc mạng mình, không sái cơ vận lý Trời Đất, gọi Thượng-lưu, gồm ba bực: Thượng-lưu là Chí-thiện, Quân-tử là Chí-mỹ, Trượng-phu là Chí-chơn. Đạo người vẹn đó là Mỹ-tục, nghĩa là phận người phạm luật đọa đến cõi trần ai diêm phù bất quảng đều có tội nên phải đọa trần, nên gọi là hang sâu, bị máy Luân-hồi vay trả. Đó là màn Vô-minh che mất Tánh Trời ban phú, chỉ biết có Tánh-phàm là ham muốn, Tâm-tục chuộng rực rằn, vật chất, Ý-mê quyền thế sang trọng theo đời là dị đoan chướng ngại. Người tri Đạo người, gọi người biết người, là linh hơn muôn loại, vén màn vô-minh, tránh xa hủ tục giả tài, là người vẹn tốt, là người mang xác ở nơi Đời, là hang sâu không cửa, lò lửa lẫy lừng, vẹn giữ Ba Thiệt gọi Tam-chơn, đó tròn Mỹ-tục là vậy. Đặng vậy là Thuần-mỹ, gọi Ròng Tốt là đó.

THI

Nữ-lưu mang xác phải kiền-thiền
Ở tục lòng thanh gọi thạnh giềng
Rặc Tốt thiệt Ròng tường Tám Báu
Ba Lành, Năm Phải đặng huờn Nguyên.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Nữ-Oa Liên-Điện, rồi giao Chưởng-Quản in ra đặng nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Học xét lý trấn tỉnh tâm thần, y tuân Thiên-lịnh, trỗi bước kịp thời Đạo-đồng tế thế, cứu Linh khỏi nơi sa đọa đó mỗi con

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Lịnh ban lời gọi đức danh
HOÀNG Thiên chẳng phụ phận tâm thành
ĐẠI ân phong thưởng người trung hậu
ĐẾ-Khuyết dựng gầy chỉnh mối manh.

THU, con định-tâm nghe Thầy ban dạy.

Hiện giờ cơ Đạo huờn Nguyên, Đạo-đồng Thống-nhứt, Thầy định gồm thâu đủ Tam-Hồn về một là xá ân ban lời Giác-thế, mở Lý khải Hồng-ân, ban xá tội cho phàm gian, lập Tam-Tông dựng gầy cơ thể nền Nhơn, qui Tam-Bửu, chỉnh đốn lập đời thới thanh Đạo-đức đó con. Phận con là một đứa con yêu dấu mến thương nơi Cửu-Tiêu lâm hạ, Lý ký Thủy-Triều Hanh-Thông đó trẻ.

Vậy con nhìn Lý xét mình, ký tế cùng Hỏa-Đức Thiên-Chơn, khải thông vận mạng thiện từ cho phàm gian, đem Đạo-đức gieo truyền, lập nền nhơn Trung-Thiên Thánh-cuộc đó con.

Về tinh thần phò giác Tri-quang, Bổn-nguyên truyền thấu, trong buổi Cửu-Tý Bỉnh-lý Luật ban. Đây là đầu mối dây của Đại-Đạo dựng thành Sơ-lý đó con.

Về Tam-Hồn của Đại-Đạo là lý huợt bác nguyên do, ấy là Linh-Hồn trí kỷ; Anh-Hồn hộ Chơn, tả thông thanh; Thần-Hồn khai Cửu-Dật, hộ hữu chánh huờn bạch, Tam-Hồn Qui-nhứt, Linh-Hồn thông thệ Tam-giới liên kỳ. Ngôi là Thần-Hồn, Bổn là Linh-Hồn, Giác là Anh-Hồn, gom lại Ngôi Bổn-Giác tự tay Thầy, Linh-Hồn cầm Thiên-Vận, Ngôi Bổn-Giác chủ Tam-Hồn là vậy. Phép tu hành nguồn Đạo-đức chung qui căn cũ; Thể, Lý, Tánh, Tâm, Thân, Ý, Âm, Dương, Phủ, Tạng, Động, Tịnh, Hay, Biết đồng Qui-nhứt. Bổn là Phật Tâm gọi là nhứt Phật. Phận người tu gồm Lý Ba, Thuận Thiên dưng tấc lòng thành, trí-tri cách-vật, Cảm-Ứng Huyền-Linh, Mầu-cơ thông hiển, Thái-Cực tượng lý Từ-bi, chạm dạ Bác-ái, thuận thời Công-bình Tánh quảng; Đó là Tam-tề hiệp lương, nhứt định siêu tăng, là gồm lý Tam-Thanh; duy duy Tam-Bửu đó con. Muôn điều thoát tục trược là Phật gọi Nhứt-huệ, Tam-độc diệt trừ, Tam-thông hiển hiện, Tam-giác ngô thân, Tam-kỳ thức thiệt. Đó là Tiên-giác đó con.

Vậy phận tu gìn Lý Bổn-nguyên là Đạo. Đạo vô hình nhưng hữu dụng là học lý tri lý, phải nhìn thể xét lòng Trí-tri Minh-đức là đó, gọi Đạo Tân-dân cảm giác, Đức hóa thiện từ, dụng tướng khả vĩ Đạo vi duy, diệt mỵ ly tướng trược, tha Chúng-sanh tướng, hòa Tứ-chơn là nguyên do kỳ định. Tam-nhứt là Ba-một thọ Càn, thế Thiên giác thế độ Linh là: Che, Chở, Thương, Mến, Nhẫn, Nhiêu, Dung, Thứ, tỉnh tâm thoát tục, gọi trong nhứt định Lý, Thể tương tề tâm tỉnh trị biệt, Âm thanh, Dương hòa, Tam-huê tường tri, Tam-ngũ là chủ Kiền Khôn, Tam-Hồn Qui-nhứt là đó. Tam-Tông Khôn thể Hồn khuôn, Tông mẫu, khuôn mẫu nối liền mẫu khuôn hòa thuận. Tam-Tông là hình thể trợ kỳ cho Tam-Hồn, gọi là Hồn Xác là đó. Tam-Tông lý Tam-tam tri chơn chánh, lý tả qui, hữu cũ là ngôi Khôn, Càn tượng. Muốn cho thành Đạo, Càn Khôn phải hiệp nhứt, Tâm hữu minh trưng, phải lập Luật mới Bình-Linh võ trụ đặng. Luật Trời dò định thành lập Thượng-Nguơn, nêu Tam-Hồn qui hiệp Đại-Đạo khai hoằng, Tam-Tông ứng hiện, Thống-nhứt Kỷ-Cương đồng thông thuận thời Tam-Bửu trắng trong, là Qui-nguyên Tứ-Thánh đó con.

THI

Mừng THU lao khổ trẻ bền gan
Muôn đắng ngàn cay vẹn chẳng phàn
Thành lập Đạo-đồng che vạn loại
Giáo nhơn tu niệm vững chơn thoàn.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Vô-Vi Diệu-Lý khai mở tinh-thần, chung đây con cả nghe chung định học xét lý trấn tỉnh tâm thần, y tuân Thiên-lịnh, trỗi bước kịp thời Đạo-đồng tế thế, cứu Linh khỏi nơi sa đọa đó mỗi con. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung. Bài nầy nêu vào Thánh-Luật.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Tam-Thập Lục-Thánh Thanh Hòa Nhứt

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC báu trắng trong trẻ hỡi nầy
HOÀNG đồ gầy dựng lý tường thay
ĐẠI ân con hỡi tròn Tâm-lý
ĐẾ phận Trời trao thống hiệp đây.

NGỌC, con nghe Thầy dạy; Đầu đề khó nhọc, hiểu phận lành tăng, Đạo-đức trang bằng, Vô-Vi ứng cảm, thanh tường cơ hội, Trung Lý hoằng chơn, chí dốc chẳng sờn, tâm thành đáo vận, Nền Nhơn hậu cố, thế-giái siêu tồn, Công-đức chánh minh đó trẻ.

Nầy con NGỌC, Tam-Hoàng khai dựng, Thánh-Đức hiện hành, muôn Linh tắm gội ân Trời. Vậy con định-tâm nghe Thầy dạy chỉ nền nhơn Thánh-cuộc đây con trẻ.

Nền Nhơn thâu Vạn-lý giáo thiện muôn Linh, Thánh-cuộc siêu tồn, Vô-Vi Thánh-Luật, tri giác tâm trung, tánh phàm dứt hẳn, Thanh Thánh hiện thì, Khai-Thiên Tịch-Địa do Trời vi chủ. Tam-nhứt, Tam-tam, Tam-thập-lục, lý Càn Khôn hiệp nhứt mẫu khuôn tượng hành, Càn xuất Dương khai Diệu-Lý thạnh thành, Qui-nguyên Giáo-lý là đó. Đạo-Dụng, Tướng, Chơn; trừ lêu lổng lập Chơn dung, dụng thể Chơn trừ giả thể, gọi tường Chánh-Thể; gìn Đạo-Dụng khử dẹp Si, bền Nguyên do Tâm-lý gọi Đạo-tâm, đổi lý trí phi thố phỉnh phờ, đặng vậy đắc thành Đức hậu, Nhơn hòa, Tam-thập-lục thanh, Thánh-Cơ hoát khởi là:

1. Thánh-Cuộc.
2. Thánh-Công.
3. Thánh-Địa.
4. Thánh-Tâm.
5. Thánh-Tánh.
6. Thánh-Ý.
7. Thánh-Thân.
8. Thánh-Thể.
9. Thánh-Ngôn.
10. Trọn gìn Thánh-Giáo.
11. Thông Thánh-Lý.
12. Thánh-Nghiệp.
13. Thánh-Đức.
14. Thánh-Khán thành nhãn.
15. Thánh-Tri nguyên vận mạng.
16. Thánh Từ thiện niệm lưu giác hậu.
17. Thánh-Minh đồ kiên cố Thiên-mạng.
18. Thánh-Học Đạo bất hoặc.
19. Thánh-Trí quãng liêu.
20. Thánh-Cơ thanh lập.
21. Thánh-Tín tồn tâm.
22. Thánh-Ư tin nhứt.
23. Thánh Nhiên hạo tế thế.
24. Thánh Kỷ tri Cang.
25. Thánh Qui củ hiệu.
26. Thánh Nhơn chơn nghĩa.
27. Thánh Húy giác tâm.
28. Thánh-Đạo phá mê.
29. Thánh-Nguơn Đức trọn.
30. Thánh Triêu Tịch kỳ thọ.
31. Thánh Thuần huờn vô.
32. Thánh Sản tăng nhân.
33. Thánh Tôn thọ nghiêm.
34. Thánh Thỉ chung qui.
35. Thánh Thường thân Đạo.
36. Thánh Vật tường tinh.

Vậy giờ nầy Tam-qui Tâm-lý, vẹn giữ tôn nghiêm chung phận đó NGỌC con. Vậy phận con vẹn gìn lần lần trỗi lý đây con trẻ.

THI

NGỌC trẻ an gìn lý quảng bao
Vẹn lành Tâm-lý Đạo càng cao
Thánh thanh Trung Địa thành Thiên-Quốc
Đó phận con gìn thấu nghĩa sau.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng nơi Vô-Vi Cảnh đây, đặng trong đây chung mỗi trẻ nghe chung đó gọi học hành rõ Tam-Thập Lục-Thánh Thanh Hòa Nhứt, mỗi con vẹn đó là Thánh đó mỗi con. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung. Bài nầy nêu vào Thánh-Luật cho rạng rỡ thanh danh công tâm tri giác thượng hành lưu hậu đó mỗi con.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Mối Huyền-Linh, Cơ-quang Thầy lập Đạo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 12 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (11 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC là Khí tượng ánh Hoàn-cầu
HOÀNG Lịnh chủ quyền Thái-Cực thâu
ĐẠI hóa hoán sanh tri diệt khắc
ĐẾ Tiên Huyền-bí diệu mầu đâu.

THẦY mừng thay con HƯƠNG định tâm nghe Thầy ban ơn chấm điểm phận, ban Lý dạy truyền đây trẻ.

Vậy con khá tuân y thừa hành phận sự, xá thế tục, thâu Hạo-khí, trí thể châu rạng ngài. Thầy thâu truyền công dụng đây con trẻ. Giờ nầy con định-tâm nghe Thầy chỉ rõ mối Huyền-Linh, Cơ-quang Thầy lập Đạo đó con.

1.- là năm Giáp-Tý, Thầy dạy Thần-quang Diệu-trí, khai hóa Thiên-thời, Đạo Trời mở vận huy hoàng điểm đích, Lý gọi Hà-trược, cảm thượng kỳ ứng khai khuôn mở mẫu. Tứ-Thánh đắc Lịnh Thượng-Tiêu, đồng qui Giác-thế, gọi Giáng-hạ, thể gọi Mộng-Thần, thể gọi Hào cảm Quang-truyền Thần-Ứng. Đây là Tiên-tịch gọi Thiên khai ư Tý.

Sang năm Ất-Sửu 1925 Khí hóa tượng Hồn chỉnh đốn Lợi Trinh, Nguơn Hanh còn tỏ, huờn đáo Hậu-Thiên, tiền đồ Giác-thế, hueäđđiển ứng tâm, Tâm Thần chỉnh đốn, Đàn-nội tượng Hồn, Hóa-dục Quần-sanh là Địa-Hoàng tương hội.

Đến Bính-Dần cơ Nhơn khải Lý hoàng vi gọi Nhơn-Hoàng lập cơ Phổ-Độ. Phật, Tiên, Thánh, Thần, hộ trì Linh-Tiêu, chính mình Thái-Cực lâm Đàn, xá ân vạn loại, gầy dựng Đạo-mầu, qui Quần-linh Đại Ân-xá, dùng Cực-linh điển huệ, thâu Thập-Nhị Thời-Quân, ban trao ngày Trời đêm Đất; gọi Sanh, Hóa tháng lịnh, gọi Thánh-Linh thanh hội lập Hội-Thánh, chính Cực-Tiêu chiếu điển, bày khuôn khai mẫu thống ngự Tam-giái là Ân-xá con hiền, Oai-trị nghịch-tử, khải Kim-Khuyết, Ứng-diệu Diệu-điển Quang-huy Bạch-Ngọc-Kinh, hào quang huy huy Tứ-giáo, Cơ xây Vận trở thành lập Thượng-qui Thái-Cực Vi-Hoàng, Cao-Đài Danh-hiệu, Trời Đất rộng thinh, cửa Trời khai mở chánh cang trung. Từ cuối Hạ-Nguơn, loài người cùng cạn Đạo-đức, vật chất đầy tràn, bổn chất tiêu tan, vô minh bít phủ. Vì đó, trên mặt đất nầy khí sáng tiêu tan, trược độc xung Thiên; rồi động Thanh-vân dội Sấm, khí trược đó tiêu hoại, thì trên võ trụ nầy phải tan rã. Vì Đấng Cha Lành Háo-sanh Vô-diệt, chính là Cha cả Thiêng-Liêng không lẽ để nhìn con chung bị tiêu diệt, nên dùng Tam-Hoàng Bổn-lý Giác-tâm, Thần thanh Sấm-trược, qui Tam-giáo, Tứ-Thánh, Sắc-lịnh ban phê, sai chung Môn-đệ lâm trần, hộ kỳ Quảng-Huệ, luật Trời Đại Ân-xá phàm gian, mở khai Đại-Đạo, tượng trưng luật Công-bình diệt tục mù, thâu chơn chánh, thuần mỹ Thể, Vật, Pháp, Lý Tâm-Linh; nhìn hào quang của Chư-Phật, Chư-Tiên gồm vào mối một, tượng khí Huyền-Quang, ứng Huyền-Linh, sửa đoan võ trụ. Phật, Tiên, Thánh, Thần đồng nhau vưng Lịnh Trời lập công cứu thế; tri Cơ-quang, lập Bí-khuyết, khải Bỉ-thương, nên dụng nhiều Huyền-cực Hư-vô, khai Huyền-quang trăm mối, truyền lý muôn ngàn, cơ phán tán lập công, Đa-na đẳng là vậy. Vì đó cơ thể chỉnh đoan nhiều Chi, nhiều Phái, đặng nhiều lời dạy bảo cho phàm gian là đó. Vì phàm gian nhiều bịnh độc ác cãi Trời nên Thiêng-Liêng dụng nhiều Lương-huệ đặng cứu, cho nên đến năm Mậu-Thìn 1928 cơ Đạo mở khai Tứ-giáo, mỗi ai truyền Môn-pháp, nhưng kỳ trung Chánh-kỷ do Trời Cha vi Chủ.

Đến năm Canh-Ngọ 1930 cơ phân tán lan tràn, cơ Trời hoàn khuôn, trí mẫu, chiếu điển trí vị Lý-chơn, sai Tứ-triệt hộ kỳ, hộ Thất-Thánh thi công, phân Tam-Giang khuôn mẫu. Đó là thể đồ cơ Đạo trí-tri Minh-đức, Đại-Thành Bổn-Nhứt thời đây, vần xây chẳng ngớt, tấn hóa phổ thông, đua công hiến đức, háo chí Thánh khai tâm.

Đến năm Mậu-Dần 1938, Thầy chỉnh lập Đại-hội Công-đồng, triệu Tứ-Giáo, Ngũ-Chi về Linh-Tiêu ban Sắc-lịnh thi trường Phán-Đoán Đại-Đồng, cân phân phước tội, Thất-Hiền bỏ xác, ứng chực triều Thiên thiểu phần đăng vị, là khí Hậu-Thiên còn mến cư trần tâm nhiễm. Nên đến Hội Long-Hoa phán đoán kiếp Mậu-Dần trong Thất-Thánh, Thất-Hiền cũng còn thiểu quả. Cơ Nhứt-trí phán phân, gọi sấm tan mù tối, đổi Địa-cầu diệt trược huờn thanh. Lòng người từ đây thức tỉnh vẹn rồi còn sót lọt, Thầy cho Sa-tăng đoái tội lập công. Thầy liền Bình-phân Long-Lục sau chín năm phán xét, gọi Thập-ngũ dư bình, hòa thân thọ Đạo dụng Dương hoán Âm. Từ Mậu-Dần đến năm Quí-Tỵ, Lý cân phân, Thể thừa hành. Từ Ất-Dậu thưởng phạt răn. Đến Ất-Mùi cơ phạt răn, lý thưởng ban nhiệm kỳ của Hạ-Nguơn, Thiên-cơ liền khai Sơ lập, chuyển về Hào-sơ. Tam-thập đủ đầy, lập thành Sơ-hội, Thượng-Nguơn mở khiếu Thiên-La, trí quang Thiên-Đế, đổi Hổn qui Thiên-Lý Nguơn-Hanh, ứng vận trong Tam-Kỳ ba lần mười có Tam-tiểu Thời-kỳ ẩn trong, ứng chuyển Hạo-nhiên là ba mươi ba năm, nền Nhơn gầy dựng. Đến năm Bính-Thân, Công-bình khai Lý, tượng trưng Chí-công, Chí-chánh, Từ-bi, Chí-chơn, Chí-định, là tả hữu tương tề, Bác-ái là vô tà, vô tư. Đến năm Mậu-Tuất, Thầy tỏ lý Tam-Hồn qui nhứt của Thân, Dậu; Khai-bày rạng rỡ Tam-Tông, lập thành Chánh-thể, mở Huyền-cơ thâu Tam-Bửu, Âm Dương ký tế, ôn hòa lương hiệp, Hội-Thánh thành qui chơn chánh duy nhứt. Vẹn đây là Đạo-Thể, chơn-chánh rạng đồng. Tam-Hồn là Ngôi, Bổn, Giác; lý ứng Thần, Khí, Tinh; khải Tam-Tài, trí Tam-Tông là khai Thể, Lý Thập-Nhị Hoàng-Đồ, Tam-Quân thọ chủ Cơ-quang Đại-Đạo qui Bá-giáo là lý đó. Tam-thập-lục, Âm Dương hiệp nhứt là Thiên-Lý, Hội-Thánh vẹn tròn, vưng Thiên-Mạng hoằng khai lý nhiệm giáo huấn Chơn-hiền, do Thiên Chủ-Tể, Cao-Đài Thống-Nhứt Đại-Đạo Qui-Nguyên, Trung-Ương Thiên-Quốc, là Tam-thập-lục thừa Thiên, lương đồ duồng thiện, thới thanh Đời Đạo; trong đó đủ Thể, Lý, Dụng đồng Đạo Nguyên do, cơ Lý là đó. Nếu vẹn thành võ trụ phụng Thiên, là đến năm Tân-Sửu 1961 hoàng khí diệu hồng, Thiên Nhơn đồng trí dõng, Tinh kỳ Anh chất.

THI

CAO sâu mầu nhiệm lý Khôn thành
MINH mẫn tâm trung rõ lý thanh
HƯƠNG đượm Việt-Nam nơi Thánh-Cuộc
Vưng nghe lời giáo định tâm hành.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường chung Hội-Thánh khải thủ đề qui của máy Trời truyền ban Đạo-lý, xây dựng Thượng-Nguơn, Tân-dân Minh-đức, thiện mỹ thể thân đó trẻ. Bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Tam-Hồn hữu thể, Chơn-tướng tượng trưng lý bạch

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (10 giờ tối.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC báu Thầy trao Thợ khéo gìn
HOÀNG đồ khai mở phận Môn-tin
ĐẠI ân Võ-lộ Trời Nam-Thiệm
ĐẾ Đạo hoằng ban cứu thế bình.

THU, con định-tâm nghe Thầy ban dạy Đạo-phục Tam-Hồn hữu thể, Chơn-tướng tượng trưng lý bạch, học đây gìn phận xét mình rồi nêu vào Vô-Vi Thánh-Luật nối hậu mẫu khuôn, vẹn y Chánh-pháp, Diệu-lý Chơn-truyền đó trẻ.

THI

Tam-Hồn tỏ rạng Đạo nầy THU
Nam-Thiệm Bộ-Châu lý vén mù
Việt-Quốc Trung-Thiên Trời mở Hội
Đại-đồng Tín Thiện đáo Xuân Thu
Tín-tường Bổn-Thỉ thông liên ngoạn
Linh-Chủ trứ Nguơn Bổn giảng-thâu
Anh-Giác Thần-Ngôi tri huợt bác
Thông lương qui nhứt đắc tu du.

Đạo-Thể Linh-Hồn:

Đạo-Khôi là: Mão, lý gọi Thanh-Thiên Nguơn-Mạo. Mão nầy ngạch tiền, hậu đồng nhau; chánh tim 15 phân, tượng lý Tam-ngũ, uốn nguyệt, lý gọi Hạnh-qui; trên chót ngạch tiền tượng cung Càn, lý Trời Càn khải thông Thiên; Hậu trên chót tượng cung Khôn, lý gọi hậu kỳ thông trạch là Tịch-Địa, Diệu-Lý Thiên Địa Huyền-Hoàng hóa sanh vạn loại; có ảnh Thánh-Tâm kế gọi Nhãn-Tâm, tượng trưng Tâm-Huệ, lý kiến thị phế can; kế đó tiền đề chữ BỔN, lý gọi Tinh-Duy Bổn-Nhứt; hậu đề chữ GIÁC, lý gọi tri thức hậu tiền, Bổn-Nguyên giác trí; kế đó đề hàng chữ Nho:“PHỤNG THỪA NGỌC SẮC BỈNH HÀNH ĐẠI LỊNH DIỆU LÝ KHẢI THÔNG” gọi Ngôi Thiên-Chơn Cực-Điểm lâm phàm, là Hỏa-Đức Linh-Quang của vạn loại, là lý sáng muôn muôn vô cùng huy huệ, gọi thanh phương võ-trụ Tam-trùng Tàng-giái, lý gọi Tiên-Môn Càn-Cực, giá hạ lâm phàm, hoằng hóa lý êm dịu, gọi sanh hóa, du hành, tương quang bất tức, Nhứt-Cực vưng mạng Thiên-Tiêu Bí-Khuyết, cứu thế hoằng khai Diệu Huệ rọi vào màn u tối trở nên rỡ rỡ, tuân y Sắc-tứ Ngọc-Đế, Cha Trời. Từ Vô-Thỉ đến đây Linh-Diệu Cửu-Tý Thiên-Chơn mới lâm phàm một lần đây đặng cầm nắm cán cân thưởng lành phạt dữ, trong buổi Trời xây dựng Thượng-Sơ, truyền Đạo cứu Đời, thới thanh vị lập, nên gọi Con Một của Cha Cả Thiêng-Liêng, là Trời Chủ-Tể, nắm mối Chưởng-Quyền; khai manh huấn lý, vưng Đại-lịnh Bình-Linh phân đoán, đem lý sáng ban truyền phàm gian, gọi là độ Đời về Đạo-lý. 12 chữ nầy màu vàng, gắn vào ngạch Mão màu đỏ, lý gọi tâm huệ rọi Huỳnh-Trung, Huỳnh Huyền tương hội, xác sạch, tâm tỏ lý gọi chánh nghiệp, nhơn tuyền-miên đức. Khuôn Mão 12 giác màu đỏ, là Thập-nhị Khai-cơ, qui trung là giáo Tam-tài, Đời tỏ, lý khai tâm hữu cứu Quần-linh; Định Tam-Nguơn Đạo tri cảm, Giác Tam-đạt Nhơn ứng hòa, gắn 12 Thẻ vàng, trên Thẻ đề 12 chữ: “CÀN KHÔN ĐỊNH CHỈ THẾ GIÁI QUI HỒI HOẰNG KHAI CHƠN LÝ”. Trên thẻ gắn Nhãn-Tâm, chữ màu đỏ, lý là Huỳnh-tương ứng vận, do lý tượng chiêm, định-tâm quảng kiến, phế can bất mậu. Càn thay quyền Trời phân rõ Tam-tài Đạo-lý là Trời, Đất, Người hòa lương. Khôn Lục-Can, gọi Khôn thay quyền cho Đất, Lục-Can là Tam-Hồn; Lý Thể Thần, Anh, Linh, Thân, Nghiệp, Định, Càn Khôn hiệp nhứt; thuận hòa là khuôn mẫu, lý gọi sanh Lý-chơn, hóa Thể-chánh, định nhíp Âm Dương, gọi rõ thông lý sáng, thể tối vượng tâm, Công-bình chẳng lạc là lý đó. Thẻ cao 4 tấc, lý tri phẩm Tứ-quang: Biết, Hay, Xét, Định; tỏ tường Trời soi, Đất chứng, Người xét, Nghiệp thanh. Biết, Hay nhờ định mới rõ nguồn lành an sáng tỏ là đó. Lạc-Thần-Phong 9 tấc màu vàng, Cửu-tư thức thiệt, Chung-Thỉ mãn viên. Thẻ Hoằng-Khai hai bên thòng xuống, mỗi bên 6 tấc màu Tam-Thanh, Tiên-Thiên lý Thần, Khí, Tinh. Mỗi bên gắn chữ Nho, tròng vàng, chữ đỏ. Một bên trước mặt của Thẻ thọ “PHỤNG THỪA BÚT DIỆU TẾ THẾ ĐỘ LINH”, lý là phúc vị chơn Đông tường Thiên-lý, phụng Chỉ vưng Sắc thế Thiên Bỉnh-Bút Huệ-Tâm, Diệu-Tánh, cứu độ muôn Linh tròn câu Bổn-Giác, phắt dị chánh, Tây tường Địa-dục, Bổn lý điển thông Giác thế, hồi thủ trí Sơ, qui thượng khai Huỳnh, tượng Hoàng kiện Tâm, thông Thiên khải huyền, truyền ban nhiệm lý, là đem trọn nguồn lành chánh chơn giáo dục, thế sự tường tâm bất hoặc, tránh ra khỏi chỗ tối tăm mất lý, trở nên người sáng, rõ Trời thanh phương cao cả, sáng suốt vô cùng, vô tận; rõ Đất ơn nghĩa rất dày, lớn rộng bao la, khó lường vô tận, sáng suốt vô cùng, vô tận, rõ lý rồi định báo đáp, xứng ngôi tấn hóa tinh-thần, thông tri mạng vận là vậy đó. Giờ nầy chung mỗi con định-tâm nghe Thầy ban ơn dạy chỉ.

THI

Hồn khôn chủ sự cả Hoàn-cầu
Kêu bớ phàm gian gẫm lý sâu
Chớ tưởng thấp cao rồi vướng Luật
Muôn ngàn lý sáng giảng rồi thâu.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn, đặng chung mỗi con nghe chung xét lý, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Tam-thập-lục Thánh, tuần ư định tuyết, thấu rõ tuần cơ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (11 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành bền giữ gọi gìn trau
HOÀNG-Thượng điểm công trẻ một màu
ĐẠI-Đạo hoằng khai truyền Chánh-pháp
ĐẾ-Quân mỹ cập diệu Chơn cao.

NGỌC, con định-tâm vưng lời Thầy ban dạy, Tam-thập-lục Thánh, tuần ư định tuyết, thấu rõ tuần cơ đây trẻ.

THI

Chưởng-Quản Ngôi Cao gọi Thánh-Tòa
Thay Thầy xây dựng nghĩa duy gia
Ngọc-Kinh Cung Điện ròng thanh bạch
Bớ trẻ trau giồi Thánh-Cuộc đa.

1. Tòa-Thánh là: Tòa cao vọi tinh thần phát triển, Tòa thể hành u hiển tinh quang; phận con Chưởng-Quản vị cang, tinh thần tấn hóa ngàn vàng Đạo danh. Nầy Ngọc trẻ, định-tâm an lòng bước lẹ, nghe Thầy trao vui vẻ y hành, xứ Việt-Bang Tòa Ngọc thanh thanh, nơi Châu-Thiệm điềm lành ứng vận. Tòa hữu thể mối manh Thiên-lý, thâu tinh thần Nhơn ký Thiên-lương. Đây là Thầy dựng Trung-Ương, Tòa nêu danh sĩ hiền lương thuận hòa. Tòa là lý huy nga Cung Điện, Tòa Ngọc-Kinh điển tuyết khai Dương, tiền khai mối Đạo dọn đường, đó là tiền Đạo hậu nương chuyển Thần. Chiết cung Khảm nghĩa-phương dựng lại, qui về Trung thế giái Ngũ-chơn, Năm Chi qui hướng cao-sơn, đó rõ nầy NGỌC trẻ, Năm-châu ứng cảm nghĩa-nhơn Khôn hòa; lý tỏ Càn Nam ca tiếng Đạo, dưng tấc lòng Hóa-Tạo một ba. Đó là Tam-Giáo Thánh-Tòa, Đạo người thọ thọ vĩnh gia khúc cầm. Dựng Càn-cang cao thâm nghĩa lý, Khôn hiệp Càn, Càn ký Khôn thâu. Hiện đây Bác-ái Hoàn-cầu, hiện nay cơ hội giảng thâu Công-bình. Tòa lý thiệt phát minh thuần mỹ. Nầy NGỌC trẻ, Tòa cao siêu vạch hé Huyền-vi, gồm thâu Bát-bửu nhiệm kỳ, thới thanh Đời Đạo đồng qui chơn-truyền.

Nầy NGỌC con, Tòa là Lý, Thánh là Thanh, Ngôi cao tỏ rạng thanh khí tường tâm, thể đức không lầm, Lý-chơn tế thế.

2. Là Thánh: Thánh là lý thông minh sáng suốt, dẫn đường thông rọi đuốc phá u, nhìn tinh-thần quang Kỷ Cang tu, gọi Thánh-Cuộc Xuân Thu Trời lập. Trung tín kỷ vạn thù hòa nhứt, Ương bình hòa thậm cực cao siêu. Đó là giềng mối Cửu-Tiêu, cuộc đời Trời chuyển mến yêu chung bầu. Tòa ánh sáng nguy nga rỡ rỡ, Thánh thanh thanh rãnh nợ trần ai. Tòa Cao vạn tượng thông Đài, Thánh Trung-Dung-Thứ rạng ngài hoằng Chơn. Tòa cao vững chắc nền Nhơn, Thánh là cơ cuộc vờn vờn Càn tri. Trung-Ương Thánh-Cuộc Châu-nhi, Đại-đồng Huynh Đệ chung qui Đạo Trời. Đạo là xây dựng chỗ nơi; khai Dương Tướng, Thể, Dụng, Đạo Đời Nguyên do.

Nầy NGỌC con, Tòa ánh sáng huy hoàng, Thánh thanh phương-nghĩa, trung tâm võ-tru, cuộc tuần huờn lý, Tòa-Thánh Cao-Đài Trung-Ương Đại-Đạo, Thánh-Cuộc Thiệm-Châu.

THI

Tòa Ngôi Thánh vọi hiệu Cao-Đài
TrungƯơng bình đại xá đây
Đạo-Pháp cuộc qui Trời Chủ-Tể
Thiệm-Châu Thiên-Quốc Bỉnh-Linh nầy.

MƯU, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng đặng chung nhau lớp học Cao-Huấn nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, rồi nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Lý diệu chơn duy thông chơn tri lý

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ sáng.

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-Sĩ phô trương lý diệu hành
OA tươi năm sắc rạng thinh danh
KIÊM trong ngọc báu ròng chơn hạnh
MẪU Tử tao phùng Huệ-luật thanh.

Mừng chung mỗi con Nữ-phái hiện giờ đây, chung nhau Nam Nữ định tâm vưng lời Kiêm-Mẫu dạy truyền lý diệu chơn duy thông chơn tri lý đó mỗi con. Phận tu hành cấp cao gương mẫu thì vẹn chí hướng đồ, Đầu-Sư năm cung phải vẹn phận khải thông tánh chọn, chí kỉnh thừa hành, độ linh qui thiện; Viện-Trưởng thay thế cho Hội-Thánh chiêu đãi Sĩ Hiền, giác thế độ linh, dìu dẫn Nữ ban về đến Hạnh, Khiêm, Từ, Nhượng; Bốn-đức rạng Đông phương trương chánh nghĩa đó. Vẹn giữ Mười-lý đức hóa thanh phương gọi thay cho Mẹ độ quần linh đây chung con trẻ.

1. là : Chiêu-Đãi dụng Đạo tròn thanh Lễ-Độ.
2. là : Tín-Ngưỡng trọn chí Kỉnh-Thành.
3. là : Công-Quả trọn thủ Diệu-Hành.
4. là : Công-Trình trọn thấu Huyền-Vi.
5. là : Tịnh-Đàn trọn thông Trật-Tự.
6. là : Giao-Tiếp trọn hòa Thượng-Hạ.
7. là : Kỷ-Cương trọn thông Đạo-Đức.
8. là : Thuần-Chơn trọn Vô ngã Vi.
9. là : Pháp-Chánh trọn đắc Kiền-Thiền.
10. là : Lý-Nghĩa trọn Củ-Qui.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Phận sự diệu hành thanh chơn về Đạo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 7 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thanh cảnh vọi chiếu gương đời
LIÊN hiệp thỉ chung sáng khắp nơi
TIÊN tục khác nhau tâm khá chỉnh
NỮ lưu phẩm vị vẹn tâm thời.

Bổn-Cô mừng NHÂM Hiền-sĩ, chung mỗi em nơi Nữ-phái, hiện giờ định-tâm nghe Chị chỉ rõ phận sự diệu hành thanh chơn về Đạo đó mỗi em.

I. Đây về Đầu-Sư:

1. là về Đầu-Sư cung Bích: phận sự về Công-quả, Trọn-thủ Diệu-hành là sáng suốt, gọi giúp Trời dìu dẫn đoàn em, lập Công-quả trừ tội xưa, gầy nên Đạo, Thể, Tướng, Dụng; vì trong cõi trần ai là nơi trường-thi Công-đức, ai muốn rảnh tội thanh lòng dứt trược; ráng lập công chuộc quả xưa gọi Niết-Bàn, trường khảo xét, còn ai không vẹn công đức cử mãi lòng mài miệt trần ai đó vậy. Cõi trần là lao lung nhốt hồn, rỗi mãi trong máy luân hồi đó là oan nghiệt vấn vương khổ hải nên gọi: Thiên-đàng, Địa-ngục cũng tại trần ai đó chung em hỡi.

2. là về Đầu-Sư cung Quỳnh: thuộc Công-trình. Công-trình Trọn thấu Huyền-vi; là phận Đầu-Sư làm đầu nhơn-sanh, dẫn dắt nhơn-sanh đi về đàng Đạo-đức, thì phải lo học lý Trời ban cho thông cảm rồi giáo dục lại đàng sau cho em dại, gọi luyện trí cảm giác huyền cơ vi thiện, chấm điểm công hiền, cho em hậu tấn, làm gương ứng chực mạng vận Trời ban cho tròn sứ vụ.

3. là Đầu-Sư cung Diêu: thuộc về Công-phu, là đứng trước làm gương, lập công chuộc tội trí vị chuyển phu, sát thể nhục, ý huỳnh, định tâm thanh phận, tín ngưỡng Trọn-chí Kỉnh-thành, tiền gương thiện mỹ, hướng Đạo thiện từ, chơn thần tinh quang, thiền tâm lễ trọng, phắt phút bất ly kỳ lễ, vi nghĩa dìu nhơn đó.

4. là Đầu-Sư cung Liên: thuộc về Chiêu-đãi, thì Trọn tâm thanh Lễ-độ, là vén hết các màn vô minh tăm tối, là bản ngã chia rẽ thấp cao, xô xát từ lâu, định lại hòa thương về Đạo, mến yêu về lý. Chiêu là mong chung ai đồng qui về nguồn thiện. Đãi là đem Đạo-đức giác đát khuyên trao. Lễ hạ thân phàm, dẫn người tu niệm. Độ cẩn thận nghiêm từ, tôn minh hòa lý. Vậy cho vẹn phận sự thay Trời dìu Linh tế thế đó.

5. là Đầu-Sư cung Quế: Tịnh-Đàn Trọn-minh Trật-tự. Về Đầu-Sư thuộc cung Quế, phải giúp Trời tịnh an Đàn-nội, trong ngoài gìn giữ tâm minh, phải giáo dục đoàn em định gìn trật tư, là đừng thiêng loạn nơi tâm mà lả lơi phóng túng, rồi mất Đạo xa đức, muôn việc chi cần gìn giữ trật tự tại tâm nghiêm tịnh đó. Vậy mới đến Minh-đức pháp lưu gương trường hướng Đạo đó.

II. Đây về Viện-Trưởng:

1. là Hóa-Lý Cung-Thiềm: phận sự Giao-tiếp Trọn-hòa Thượng-hạ, nhìn nhau như một, thân mến Đạo đồng, lòng đừng rẽ chia nhĩ ngã, giao hảo đức nhơn, tiếp rước hiền-sĩ, trọn tâm công thạnh, hòa nhẫn xá thân, Thượng bình Hạ cố.

2. là Hóa-Nhơn Thanh-Lý: Kỷ-cương Trọn thông Đạo-đức, phận làm đầu Đại-quang Viện-giáo thì an lòng giáo dục đoàn em, gương thiện dìu nhơn, Hạnh Khiêm tế thế. Kỷ-cương giềng mối quang huy trật tự, rõ rạng phân minh, kiền-thiền thọ mạng, trọn lòng hòa nhượng, thông hiểu diệu mầu, Đạo đồng an sự, Đức thạnh minh tâm, xá thân phàm, cần vinh Đạo, Bác-ái đãi chiêu, Từ-bi cứu thế.

3. là Hóa-Trược Hồi-Thanh: Thần Chơn Trọn-vô Ngã-vị, trọn lòng bền bỉ, vẹn chí thay quyền Thiêng-Liêng, đồng giác thế, thiền ròng tâm vi thiện, Chơn-lý giác thân, trọn tâm công đức, vô không ưu lự, tục phàm ngã vị xá phận ta, xem người là trước.

4. là Hóa-Hối Cập-Tân: Pháp-chánh Trọn-đắc Kiền-thiền, pháp luật lý gọi Cao Kiên, chánh tâm diệt tà trí, trọn chí thắng mỵ quyền, đắc công thành Đức-nghiệp. Kiền tánh chẳng phóng dung, Thiền tâm thông huệ lý, hướng gương hậu kiến đó.

5. là Hóa-Dục Liên-Thông: Lý-nghĩa Trọn-trượng Củ-qui, phận sự diệu hành, Lý Trời thông truyền khắp độ; nghĩa Đạo dồi dào; Trọn tâm tuân Mạng-lịnh; Trượng Đức rạng công tâm. Củ căn thông vận mạng, Qui trí thấu nguyên do; rèn lòng an thọ thọ, chị trước dẫn em sau, chung nhau nhìn Đạo-đức; thọ thân tường thậm cực, cơ hồi đức đắc đồng thân, thọ kỳ Thiên Sắc lịnh đó.

Vậy chung mỗi em hành y diệu lý lần lược Chị trao lời đó chung phận sự.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức Thiên-Chơn, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng đặng chung lớp học Nữ-Oa Cao-Cấp nghe chung. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra đặng nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Cân Linh-Hồn gọi Thiên-Sắc Đạo-Cân

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà châu báu của Thầy trao
HOÀNG Lịnh ban phê trẻ một màu
ĐẠI chấm điểm công con thảo thuận
ĐẾ quyền Trời Chủ rạng ngôi cao.

THU, con trẻ định-tâm nghe Thầy giảng giải Đạo-Cân Linh-Hồn gọi Thiên-Sắc Đạo-Cân đây đặng chung con rõ lý.

Đạo-Cân màu đỏ 12 lớp, lý gọi là: lý Thập-nhị hoàng trí vận chuyển gọi châu thanh, Thiên hiển cực tiêu, đây là lý diệu huyền bí khải tiêu. Màu đỏ rạng Tâm-điền, Huệ-điển gọi Ngọc-Cân, nhứt tin cơ vận lý thừa hành tâm tận tối thanh, Đạo cao Chơn-pháp mối manh, lý trọn chí nhứt thành Bỉnh luật. 12 chữ Nho: PHỤNG THỪA NGỌC SẮC BỈNH HÀNH ĐẠI LỊNH DIỆU LÝ KHẢI THÔNG.

Đây là Thiên-Chơn lâm hạ, thọ thế kỳ thân; Phụng mạng Trời dĩ-đức Tân-dân, Thừa Ngọc-Sắc ân cần giáo nhơn, cầm nắm mối thọ thân liên tiếp, thấu Thiêng-Liêng huợt bác lịnh huy, cầm cân thưởng phạt nhiệm kỳ, thay đời tục lụy trí-tri thanh tường. Khải-thông đường nghĩa phương thuần mỹ; Hội Bình-Linh kinh dĩ Trung-Thiên; Đây là Thượng-Hội Bổn-nguyên, Lý khai Thể đức huờn nguyên Thượng kỳ. Diệu-Lý vẹn huyền cơ quang bí, Khải-Thông chơn nhơn ý tế linh. Thay quyền Thiên-lý Công-bình, xá ân người thiện oai bình người ngoa.

Vô-vi Đạo-Cân là: Đỏ, Vàng, Xanh báu Thái-Cực-Đồ, Qui-nguyên Tam-giáo Hoàng-đồ lý tam. Đen, Trắng, Tím là Vô-Vi bí khuyết. Ngôi Vô-Vi lý không hữu dụng, gọi Cao Kiên Càn thuận tâm nguơn. Vô-Vi vẹn chí cao sơn, không không có có đừng sờn nguyên do. Không hữu lý không lò Tạo-Hóa, thưởng phạt răn thiệt giả chẳng sai. Thưởng ban ban thưởng minh tài, là Vô-Vi thậm trả vay không lầm. Nhứt vô khí là vô thỉ dã. Nhứt cực quang cảnh tả thinh phù. Điểm quang độc nhứt chủ thâu, là ngôi Thái-Cực làu làu chuyển tam. Vô-Vi lý mầu thâm nhị khí, gọi Âm Dương quyền trị Huỳnh-hoàng. Vô không Vi có rỡ ràng, Âm bình Dương khí Càn cang hiệp thành. Cơ sanh hóa hóa sanh nhị tướng, chỗ định xem cảnh tượng nhứt tri. Một tròn, ba vẹn đồng qui; Tả chơn Hữu chánh thậm kỳ lưỡng nghi. Gọi rằng Thượng-Hội thậm kỳ, duy trì diệu pháp thần trì minh tâm. Vẹn trung Huệ-Luật tâm không, không tâm thấu lý Huyền-Công tượng thần. Trung-dung, Cảm-ứng, Công-thần; túc quang Từ niệm Bi quân Linh tồn. Huyền-quang chiếu rọi cảnh Khôn, giáo truyền thế hạ Giái môn Tam tường. Gọi là Tam-giáo nhứt phương, Tam-huê ứng vận nghiêm tôn nhơn bình. Huyền-linh an lý điểm khinh, Linh-quang thọ lý Tin tinh tượng thành. Chơn-Quân thọ sắc tâm thanh, đem thân chuộc tội thọ Cân cứu nàn. Lý, Thể, Dụng điển quang, đứng ra thọ sắc rỡ ràng Nam-Công. Vẹn tồn Nhứt tử Cửu không, Sơ Nguơn hoằng lý Tam không Giáo hành.

THI

Giáo-lý cứu nguy hỡi trẻ phàm
Hành tàng hư thiệt thọ Huyền-quang
Bỉnh-Linh phân đoán thông cơ điển
Luật pháp Trời trao thưởng trị toàn.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Diệu-Lý Tinh-Thần nơi Diệu-Linh-Đền Vô-Vi Cảnh hiện giờ đây đặng trong đó nghe chung. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Thánh-Lý khải Thánh-Quyền, huờn qui Thánh-Cuộc, rõ thấu Thánh-Tâm, tường tri Thánh-Giáo, rạng rỡ Thánh-Tòa, lý gọi Tòa-Thánh

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ tối)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc ghi danh trẻ trọn niềm
HOÀNG-đồ Thầy dạy lý tôn nghiêm
ĐẠI công Trời thưởng ròng chơn phước
ĐẾ Chủ Càn Khôn thấu cổ kim.

NGỌC, con nghe Thầy ban dạy về Thánh-Lý khải Thánh-Quyền, huờn qui Thánh-Cuộc, rõ thấu Thánh-Tâm, tường tri Thánh-Giáo, rạng rỡ Thánh-Tòa, lý gọi Tòa-Thánh. Đủ Tam-Đài vẹn công Chơn-quảng Tín-ngưỡng gọi ngôi thờ là Bát-Quái-Đài, lý gồm thâu bốn phương tám hướng, vận chuyển Ngũ-Hành, Thời Thần Nguơn đáo, Nguyệt-Tướng trí quang, Tứ-Phối cơ cập diệu hành võ-trụ; Cơ-vận thể hành huờn ư khải trí; Lý Thể đồng qui, tồn, vong, siêu, đọa, gồm lý hữu vi. Châu-Thiên-Đài vận hóa ứng chuyển lý mầu, Thông-Thiên pháp hiệp; Cửu-Lý Trùng-quang, gọi Cửu-Trùng Công-đức, diệu kỷ trọng phương. Về Châu-Thiên là Hoàng, Mỹ, Cửu, Tiêu. Cửu-Trùng-Đài thể dụng gồm lý thọ Luật-pháp thông. Hiệp-Thiên-Đài ứng vận huệ kiến, kiền-thiền chung thành Tòa-quảng, Thánh-quang.

Châu-Thiên-Đài cao 36 thước, thống ngự vạn vật, quần linh thọ Thể, Lý linh quang, lớn vuông 24 thước, thành cơ Nhị-thập tri cang tứ kiệt. Phòng Nguơn-Thần 15 thước dài, Cửu-khí nguơn do, thần kỉnh thông Nguơn. Hồ Nguyệt-Trảng 18 thước là Thập-bát tý đầm huy hoàng Huệ-luật. Nhị-thập-tứ tinh duy, Thập-ngũ linh huờn, Nguơn-thần ứng vận, Thập-bát hoàn trung, pháp môn Huệ-luật, gồm chung Ngũ-thập-ngũ qui tường, Tam-ngũ quảng, kiêm tề Võ-trụ.

Cửu-Trùng-Đài 81 thước, cơ Tám-mốt bầy chim rõ Tổ, thoát bẫy vòng Trời độ về ngôi. Trong số Cửu Cửu huờn thạnh đức, Lý thông dương thừa trực Cửu-Tiêu. Lớn 15 thước đó là Tứ-ngũ chung điều, hình thành bạch tượng khúc khiu lý mầu. Cao 9 thước thanh thao Cửu-chuyển, gọi Thần Tiên u hiển cân phân. Lý thanh thanh lý ân cần, tỏ tường Chín-phẩm giao tương bạch trùng. Lý Ngọc-Kinh vô cùng sáng suốt, do Hiệp-Thiên-Đài đuốc Huệ-thần. Cao 18 thước thanh quân, Tam-Hồn thống hiệp tiêu tồn qui Linh. Gọi cân tội phước Quần-linh, Tam-Quân chuẩn tế Bổn-Linh Bỉnh-hành. Lớn 8 thước 1 tấc là: Bát-quang Thiên-bửu tinh thần; Nhứt tri điểm ốc dò lần Huyền-cơ. Đây là vọi vọi Thiên-thơ, Cửu-Trùng ứng chuyển Thiên-thơ châu tường. Hiệp-Thiên Vô thậm Vi tường; đây là huợt bác nghĩa-phương Thiên-kỳ. Châu-Thiên vận chuyển quang huy; Ngọc-Kinh Thiên-lý tồn linh vận hành. Đông-môn 12 thước thanh; Tây-môn y mẫu tượng thành Lưỡng-nghi. Bề cao 12 thước duy duy; Tam-Tôn lâm ngự trọn tri thức thường. Nam-Môn chánh Ngọ tỏ tường; khêu đèn Nhứt-Cực chỉnh phương Nam-tề. Bắc tiêu điểm cực huờn nê; chốt then Nhị-Chưởng dĩ hề Thần-ngôi. Tỏa đây cảnh vật rạng ngời; về phần lý nhiệm nghĩa xuôi nối lần. Tam-thập-lục lý tinh thần; thỉ-chung Thầy dạy ân cần NGỌC con.

THI

NGỌC con trọn niệm chữ chơn thành
Thánh-Cuộc Trung-Ương lý diệu thanh
Tòa chiếu ký quang thông Thánh-Đức
Huy hoàng Thiên-Quốc khải nguồn lành.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Diệu-Lý Tinh-Thần nơi Diệu-Linh-Đền Vô-Vi Cảnh chung trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giải nghĩa lý Đạo-thể y phục Chơn-Quân

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC thanh ánh vọi rạng màu xinh
HOÀNG Lịnh điểm phê gọi tiếng tin
ĐẠI-Đức rõ thông tường Đại-mạng
ĐẾ quyền thông dụng trẻ lòng in.

THU, con định-tâm nghe Thầy giảng giải nghĩa lý Đạo-thể y phục Chơn-Quân đây con trẻ, đặng rõ biết Lý Thể hiện hành chơn tướng của Trời sắp định mẫu khuôn vị giác đây chung mỗi con.

1. Là Chơn-y Đại-phục, gọi áo rộng tay 7 tấc: đó gọi gồm Chơn-Như bảy sáng. Trên bâu đóng một nút 1 phân màu đỏ, lý gọi: khí tụ nhứt tiêu, tâm ngưỡng. Áo Khai-dương gọi: Dương khai Khôn rạng chiết Khảm trung Huỳnh rõ thông Đạo-thể. 12 nút lục giác 3 phân, lý gọi: Chủ Tam-Hồn Thiêng-Liêng thông giảng, trí vị Thập-nhị hoằng cơ, thông hiểu Bí-Huyền khai Huỳnh Hoàng ứng. Nút lục giác màu đỏ: quảng kiến Lục-long Cơ-vận, tâm thấu du hành Thiên-lý, tận chốn Lục-hào cứu Linh về tận Nhứt-Tiêu Thiên-Cực. Áo dài phủ gối 3 tấc tường ký, gọi Đạo Trời Cứu-Thế ân xá muôn Linh phước lành, lý sáng vi diệu che vạn vật sống chung là Đạo. Người trọn Đạo phải phận con Trời thế Thiên, truyền thiện vẹn lòng Bác-ái thương lẫn đồng nhau, vẹn Đức tánh thông, kiên nhứt Luật, bền cầm giái răn, tránh điều sát sanh, an lòng thượng đạt. Thể, Lý gọi: phước thanh Thiên-tứ, dư thọ cảm xuân, phủ phục cố ái vật ninh vạn vật hưởng ân Thiên huệ đó, gọi phước đức Trời ban, nhơn hưởng tế vật. Áo mở tay 1 tấc mỗi bên. Tay trái 1 nút màu xanh, hình Tứ-tượng, bên mặt 1 nút màu vàng hình Tứ-tượng gọi là: về Tam-Hồn Khí Nguơn thâu giảng; Thiếu, Thái nguyên do, Khải-Thông Diệu-Lý, cứu vớt Bốn-phương, huệ khai khuôn mẫu; vàng, xanh; tả, hữu gọi chơn chánh tường tri, tường quang ngũ-sắc, diệu hành ký túc tâm ứng đó. Nút 4 phân là Tứ-đức tay cầm bố ban vạn loại. Cổ áo, tay áo viền 1 lằn 2 phân màu đỏ trước hết gọi ngoài; 11 lằn 1 phân kế đó, là khôi mịch tôn nghiêm, Linh-Hồn gồm Nhị-Lý là: Thần-Hồn, Anh-Hồn, Chủ-Tam-Hồn: Linh-Hồn ứng cảm lý Huyền-Hoàng, dụng bí quang linh thức gọi trong 3 phân viền chia ra 1 lằn 2 phân, gọi 1 lằn số một Linh-Hồn thọ chủ, 2 phân gọi hai khí Thần, Anh huờn tụ. Kết 11 lằn 1 phân là: Cửu-chuyển Bỉ-thương, Tứ-qui Huyền-bí; số 12 Tam-tường Thiên-vận, trạm tịch Khôn Càn, do Linh-Hồn chuẩn tế, thông Tam-giái, huợt bác Ngũ-Hành, kiến thức Ngũ-Quang là đó. Trong số tuyệt đối là: 12 khuy khuyết lý sáng Trời ban gọi Linh-Hồn vi chủ. Trôn áo viền màu đen 3 phân. Mở đinh áo 3 tấc, viền đen, đụng lên đến nách, đó là: hình Chơn-y thể, võ trụ, hậu, tiền, khai khí gọi trước, Tả cơ kiến Đạo vị chánh. Tay áo có nút xanh gọi bên trái, Hữu lý kiên giác vị chơn, thạnh nhựt tăng qui gọi bên mặt, hậu viền đen kỳ hậu thủy tánh, trải Đạo-y phủ che vạn lý, Trường-cửu Đồ-hoàng, gọi Đạo thông kim cổ, cứu khổ phải dụng Đức Nhơn, truyền ban dùng Lý Thiệt. Đạo, Đức, Nhơn, Lý, Thiệt, chung qui hằng cầm thì mỗi con vẹn phận đó.

THI

Khôi-phục Cân, Y Đạo Tướng Chơn
Gọi là Chánh-pháp Lý cao-sơn
Buộc ràng thân thể thông Nhơn-đạo
Tướng, Dụng, Thể, Thân thấu Bổn-nguơn.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn ngày 19 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 , hiện giờ đây đặng trong đó nghe chung mỗi trẻ, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Về hình thức của Tam-thập-lục Thánh

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 20 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 - 7 giờ trưa)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Lịnh khải-thông lý diệu-hành
HOÀNG-đồ tế thế Đạo Cao danh
ĐẠI-đồng qui hướng Thiên-Đài hiệu
ĐẾ Thống-nhứt khuôn mẫu hiệp thành.

NGỌC, con định-tâm nghe Thầy ban ơn dạy chỉ, đặng chung nhau dò lý rạng rỡ y hành, cho rõ ràng phận sự.

Về hình thức của Tam-thập-lục Thánh, là Lý Thể Đương-kỳ, phận sự vẹn mầu cơ quang vận chuyển đây con trẻ. Phận sự tuân y thừa hành: cơ quang thống đạt khuôn mẫu quang minh đó con. Thánh-Cuộc là: Thanh-từ, gọi gồm thông vạn lý, cứu vớt Quần-linh đem về chỗ một, giáo dục tu thân gọi là Trung-Ương cơ lý là Đạo, Lý, Thể thanh đó con.

Vậy chung nhau trong lớp học Cao-Huấn là mỗi con đồng có phận sự, hay là Đại-Thiên-Phong, giờ đây an lòng định nguyện, đặng Thầy tỏ ra cho thông rõ lý tu hành, cùng lo cho tròn bổn phận đó trẻ thơ. Cơ-quang Trời đâu sái nhịp, lòng con trẻ vẹn mới đáo Hội-Nguơn. Nếu mỗi con còn trủng trệ Thầy e cho tâm tánh rã rời rồi đọng lại, uổng thay phận mầu không vẹn lý. Trong số Tam-thập-lục Thánh Thanh, Tam-Hoàng vận chuyển, chỉnh đốn Tam-Huê, Thượng qui Huyền-bí. Trong Tòa-Thánh có Tam-Đài, Tam-Cơ hoán hậu, tồn Thiên là Hiệp-Thiên phán, định Cửu-Trùng. Trong Cửu-Trùng-Đài kỳ Âm, trí vị trắc ư, khai hoàng thành lập ba ngôi Chưởng-Quyền thức thể. Mỗi ngôi sắm một giá đèn bề ngang 90 phân, bề dài 12 tấc, tam giác y khuôn, trên chót ráp trọn làm 9 cấp, trong đó 36 ngọn đèn, ba Nghi gọi 108 ngọn đèn, đó là: cơ-quang tuần chuyển, hoán hậu Âm qui hồi Dương-khí, là Châu-Thiên, lý gọi Bá-tánh đồng qui, tường tri Bát-Bửu đó. Tam-Lý là: ba ngôi vị Chưởng-Quyền gọi Tam-Kỳ Cửu-Chuyển, Thông Thiên thể hành. Trong Cửu-Trùng-Đài 81 thước; phân ba Ngôi-vị, lý huờn Tam-cửu, Tam-tam, Tam-thập-lục; Cửu-cơ, Cửu-lý, Cửu-chuyển, hòa Bát-thập-nhứt qui tường Tiêu Bí-Khuyết đó. Ba Ngôi vị nầy đủ ba Kiểng Dương, gọi Thức-Tâm Hành-Thiệt, diệt trừ Tam-muội, Thông-minh Tín-đức đó chung mỗi trẻ.

THI

Bát-Quái-Đài qui vận Ngũ-Hành
Hiệp-Thiên, Thông, tiếp diệu mầu thanh
Châu-Thiên gồm Khí hoàng Linh điểm
Hoán chuyển Cửu-Trùng đáo Tiêu danh.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn, đặng trong đó học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung. Bài nầy nêu vào Thánh-Luật.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

HÌNH KHUÔN GIÁ ĐÈN

BỬU-LÝ THỂ-KỲ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 24 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (10 giờ tối)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành châu báu đến kỳ trao
HOÀNG Lịnh phê ban trẻ vãng thâu
ĐẠI-Đạo Qui-nguyên Tam-giáo hội
ĐẾ hoằng Chơn-Bửu ứng ba màu.

THÀNH, con định tâm nghe Thầy dạy:

Cơ Đạo đến đây ba kỳ vận chuyển, Thống-nhứt hoàn trung, do cơ Trời tuần chuyển, hoán hậu trược đáo thanh Thiên, cơ huờn Sơ hội, nghĩa Qui-nguyên Giáo-lý hiện hành, chung mỗi con thừa vưng Thiên-lịnh, sẵn dạ phục Triều, Đạo Trời hoằng khai rạng rỡ. Hiện nay phận THÀNH con, Thầy định mở khai khuôn mẫu thể dụng nguyên do Đạo-lý, giờ con thành tâm khẩn nguyện, xin Thầy ban phê Giáo chỉ “BỬU-LÝ THỂ-KỲ”. Con định tâm nghe Thầy ban dạy:

Cơ Đạo hoằng khai Tam-Kỳ Cửu chuyển, Thống-nhứt Qui-nguyên Lý Thể Dụng, mầu vi cơ-quang do Thầy dẫn dắt về Nhứt-Kỳ Hậu-Thiên Nhơn-hội, Thiên khai gọi giáng phàm Phổ-độ, Thầy dạy Tam-bửu Phổ-di, Khí Tinh Thần là dụng vật, Giáo thể Pháp luân là từ Bính-Dần đến Đinh-Sửu là mãn khí vận Nhứt-Kỳ Hậu-Thiên cơ pháp; gọi mỗi con thọ thể giáo pháp thân qui; từ Mậu-Dần đến Kỷ-Sửu Tinh Khí Thần xây, Trung-Thiên cơ Đạo hành chơn, phận mỗi con thọ Đạo chơn giác, máy Trời phán đoán, Chơn-Lý thâu hành cơ-quang vừa vẹn. Từ Kỷ-Sửu đến Ất-Mùi, sáu năm bình phân đoán quảng, gạn lựa nguyên do; cho nên Thầy dạy mỗi con dụng Tinh-di trau Bổn-khí Hoàng-tánh chỉnh đốn Căn-linh, hoằng thanh khí ứng Thần quang, là loài người thân thể đồng vượng về chơn từ, chánh tánh, bi tâm; đến đây Cửu-chuyển đáo kỳ bình phân thức kiệt, thống nhứt du hành Đạo Pháp; mãn kỳ Tiên-Thiên Huyền khai Diệu-Lý thông lưu, Tam qui Nguơn-bửu, Tam-huê ứng vận gọi Cửu-chuyển vẹn, đắc Tam-thông gọi Qui-nguyên hằng hiện, lý Tam-hồn qui nhứt, cơ trí Tam-Tông, đồng qui Tam-Bửu, Tam-Quang tối trọng; Thần thạnh, Khí thông, Tinh thuần, Thiên-Hoàng Dương chấn, Thiên-lý lập trần, Xuân Thu vị Đạo gọi Thần Khí Tinh huờn đáo Tiên-Thiên là vậy. Đó gọi Thượng-Nguơn Sơ Thỉ đây con.

Bửu-Kỳ là Thể Lý Dụng chơn thanh, pháp huệ thống qui giáo Đạo, hiện nay cơ Trời chủ định Trung-Ương Đại-Đạo, Duy-Nhứt Thánh-Tòa là: giữa trung tim Địa-cầu thanh khí, Thiên-lịnh nêu hiệu “TÒA-THÁNH CAO-ĐÀI VIỆT-NAM” nơi Trung-Ương Châu-Thiệm cõi Việt-Quốc, xứ Định-Tường lý gọi chiết Khảm, Huỳnh vật Diệu-lý nhặt nhiệm bồi bổ tâm trung đủ đầy Đạo-đức gọi Đông ly Xuân rạng sáng, Tam-thông tỏ Càn, Ly liền Cảm-ứng, tâm sáng Hồng-quơn, Huỳnh thanh Hoàng ký, Huyền-vi khôi mịch, Ngũ sắc tường thanh, che dìu tế phổ vạn loại là: lý đương nhiên đó trẻ.

Vậy THÀNH con định tâm tuân y nghe Thầy dạy chỉ, “BỬU-THỂ ĐẠO-KỲ” trước là trên Tiền khai Thần Bửu là màu đỏ, giữa Trung qui yên khí trạm tịch hòa Thiên-lương thanh khí là màu vàng, sau Hậu huờn Nguơn-tinh Thần phù, khôi mịch Hư-vô Thái-Cực ứng màu xanh, Huyền-quang cảm giác; cán màu trắng là phục nhứt, hành Kim khinh Thỉ; không nên di tục hoặc đề chữ vào Bửu-Thể Đạo-Kỳ là phạm luật đó mỗi con.

Về thước tấc nơi Tòa-Thánh: Đại-Bửu Thể-Kỳ bề ngang 15 tấc, bề dài 30 tấc.

Nơi Thánh-Thất: bề ngang 12 tấc, bề dài 24 tấc gọi Đại-Bửu Thể-Kỳ.

Thanh-Thể Thường-Kỳ là: 9 tấc, 18 tấc.

Đạo-Thể Thường-Kỳ là: 72 phân, 12 tấc.

Đây là vẹn, mỗi con chẳng nên dặm xen mà đắc tội, phạm luật di dịch đó trẻ.

Kiểu mẫu như đây, hình chữ nhựt không nên tạo xéo hay mẫu khác.

MƯU, bài nầy con giao lại Chưởng-Quản in ra, gởi cho THÀNH một bổn rồi nêu vào Thánh-Luật roi hậu. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Pháp-môn thiền tâm thọ luật diệu hành, Tiên-Thiên Diệu Huệ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 3 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ tối.

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-Sĩ khải chơn ứng Diệu-Minh
OA tươi năm sắc rạng màu xinh
KIÊM-Cô kềm thúc thân tâm trọn
MẪU Tử tao phùng tạ Điện-Kinh.

Kiêm-Mẫu mừng NHÂM Hiền-tử Lương-môn. Vậy con định-tâm vưng nghe Kiêm-Mẫu dạy truyền Pháp-môn thiền tâm thọ luật diệu hành, Tiên-Thiên Diệu Huệ, qui-củ chánh chơn đó con trẻ. Giờ nầy chung nhau học hỏi lý mầu, Mẹ mừng chung mỗi con suy kỹ tỷ thâm, thỉ chung bất trắc, vẹn đó rạng đây tỏ tường Lý Đạo Pháp thân đó mỗi con.

Về Đầu-Sư, sắm Lúp Đơn cùng Thường-phục dài 12 tấc, ngay chánh tim dùng Cung phận, rồi sắp nối theo bốn Cung màu liền theo thể, sắp như Tường-Liên-Kiết vậy. Đầu-Sư mỗi lằn là 9 phân.

Về Viện-Trưởng, Lúp chỉnh lại qui củ tỏ tường. Lúp dài 11 tấc 5 phân, sắp năm Cung màu y như Đầu-Sư vậy. Cung 8 phân, gọi ngũ sắc thanh vân ứng vận truyền chơn. Bìa Lúp viền một lằn Cung phận, còn Lúp màu để hành Tiểu-phục cùng Đại-phục. Về Liên-Quang Thanh-Khiết là Lúp mỗi con Đầu-Sư để đội khi đi hành Đạo, sắm hai chữ ĐỨC chữ Nho 3 phân chữ màu theo Cung, tròng trắng, thòng xuống 3 phân, kề hai bên tả hữu Tường-Liên, đó là thanh thanh đức hóa.

Về Viện-Trưởng, sắm hai chữ NHƠN, chữ Nho 3 phân, chữ tùy theo Cung tròng trắng, lý vẹn thanh từ, tánh tâm thông quảng đó mỗi con.

Vậy chung nhau mỗi trẻ sắm đến lễ Trung-Thu thọ hành thanh phương trí định đó chung trẻ. Vậy mỗi trẻ định-tâm nghe Kiêm-Mẫu dạy tỏ đây mà xét lý.

Về Lúp Đầu-Sư Nữ 12 tấc, về Nữ-phái hành Kim trí Khảm, Cửu-Cung hòa rạng Tri lương, Năng Tam-qui Phật, Tiên, Thánh, Thần Công rằng Tam-thừa chuyển Xuân đồng Tam-chơn, năm màu về Thường, Đơn; Lúp đó là lý rạng thọ Nguơn, tường-vân Tử-Phủ Hóa-nhơn Đức thuần.

Về Viện-Trưởng, 11 tấc 5 phân; Cửu-Cung khai dựng Tam-thừa, Tam-thông vị Đạo Ngũ-cơ thanh từ. Chữ Đức, Đầu-Sư qui gọi như như, trang bằng phẳng lặng hùng-thư dứt trần. Chữ Nhơn tri-trí Tân-dân, thọ tâm giác kỷ tinh thần hậu nhơn; Tâm trung quảng đại hoán huờn, hoán trược huờn thanh trung chơn, thạnh thanh hoán hậu Kim đơn Linh tường. Lúp Đại-phục, Tiểu-phục trọn màu; đây là trọn vẹn ứng chầu, màu thanh thọ phận Cung Đâu ứng tường. Về Lúp đi hành Đạo, Tường-Liên-Kiết; Tường là lành tượng trưng tâm thiện, Liên hiệp thanh thâu hiến hoàn qui, Kiết trong lại sạch kiết duy, tượng trưng nhi nữ phương tri lý mầu; Rạng rỡ tâm tánh làu làu, Đạo thông thể dụng phùng tao liên-đằng.

Vậy chung mỗi con định-tâm vẹn học lần lần Kiêm-Mẫu chỉ thêm dạy truyền lập thành Lý Thể củ-qui Đạo-đức, đó chung mỗi con.

THI

Mỗi con Nữ-sĩ hiện giờ đây
Ân xá Trời qui trẻ hiệp vầy
Vẹn phận học hành mau thoát nạn
Vận xây mắc mỏ lắm ôi nầy!

Chào, bài nầy Thiên-Chơn đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung, rồi nêu vào Thánh-Luật.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể Đầu-Sư, Viện-Trưởng

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ tối)

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ ngọc vóc vàng rạng gái thanh
LIÊN-đằng trúng nhịp thấu duyên lành
TIÊN ban Hiền-sĩ thông Thần Huệ
NỮ Hạnh Khiêm toàn rõ mối manh.

Lâm Đàn mừng chung chư Hiền-muội. Bổn-Cô mừng thay lý diệu thạnh hành, Nữ-lưu Minh-đức tập tành Huệ-linh. Giờ nầy vẹn rồi lớp học Cấp-Cao, nơi Nữ-Oa Điện-Ngọc, Bổn-Cô mừng NHÂM Hiền-muội, cùng chung mỗi em Nữ-phái, định-tâm Chị phân giải Đạo-Thể Đầu-Sư, Viện-Trưởng đây mà rõ lý, rồi nêu vào Thánh-Luật lưu hậu diệu hành chung em hỡi.

Về Mão phái Nữ chung y kiểu mẫu gọi Thanh-Thúy Lịch-Khôi, gọi Đào-Kiêm Thiên-Mạo ngạch 5 từng chánh tim; tiền hậu 21 phân, uốn nguyệt tả hữu tồn lại 15 phân. Trên chót tim tiền hậu có gắn Nhãn-Tâm, kế sau gọi dưới có gắn chữ ĐỨC phận Đầu-Sư, chữ màu theo Cung, chữ Nho 3 phân tròng trắng, ngạch tượng 5 màu, Cung phận trước gọi trên.

Về Viện-Trưởng chữ NHƠN, chữ màu theo Cung, tròng trắng y khuôn vậy. Về Chánh-Phối-Sư chữ NGHĨA chữ màu theo Cung, tròng trắng. Về Phối-Sư trở lại Đàn sau Chị giải, còn Hoa-Liên trên Mão 5 lớp, mỗi lớp 5 thẻ, gọi Trung-Nhụy Liên-Túy, thọ Thiên-ân trưởng lên mỗi cấp mở một lớp là vẹn.

Lạc-Thần-Phong Đầu-Sư 12 tấc màu theo Cung. Viện-Trưởng 11 tấc 5 phân. Chánh-Phối-Sư 11 tấc, màu y Cung. Áo Đại-phục tay rộng 7 tấc, Nữ-lưu trau trác Chơn-như. Tiểu-phục cũng vậy; Thường-phục, Đơn-phục tay 5 tấc, Nữ-lưu vẹn vẻ Năm-hằng. Tay áo, cổ áo Đại-phục, Thường-phục viền 1 lằn 3 phân màu theo Cung, là thọ thân qui Đạo Tam-tùng, rạng tài Thanh-nữ ung dung Thiên-thành. Tùng Thiên-lý, tùng ư Thiên-mạng; tùng vận cơ Pháp quảng Sư-môn, kiền-thiền Tâm Tánh Ý đồng thiện qui. Thẻ áo Đầu-Sư 8 tấc kết liền 5 Cung, Cung phận trước gọi trên. Về thẻ cấp 12 lớp. Viện-Trưởng 11 lớp y Chánh Phối-Sư vậy; Thẻ 7 tấc 5 phân. Về Chánh Phối-Sư, Thẻ Phẩm-tước 11 lớp 7 tấc. Về chữ Yểm-Linh-Tự, Đầu-Sư y vậy; Viện-Trưởng tạo 4 chữ đề thể, Hóa-Lý Cung-Thiềm. Về Viện nào đề theo Viện đó, gọi rằng tiền thọ Phẩm Thiên-tước rạng hồng, đón ngăn tà tặc Thất-tình vẹn xong. Trong tay trau Đạo-Đức ròng Cửu-Khí, Tam-Đạt Thạnh-Chơn, Thập-Nhị-Tông, Viện Tiền hướng Lô khai Qui-củ, Trưởng tăng Đại-nhơn Thập-nhứt không, Ngũ-thường tiểu kích hòa Thập-nhị, hiệp thuận Huy-Huyền tiểu đại thông. Viện-Trưởng thẻ Viện phẩm cũng gồm 5 Cung, Cung phận trước, gọi Nhứt điểm Đoài Kim giáng hạ phàm, biến sanh Năm-sắc bởi trắc tam; Hiện nay cơ hội Trời thâu dụng, Kiền phận thể thanh định khiết tham. Phái Nữ Xiêm 7 lá, viền 4, trắng 3 là Tam-tùng phận Nữ rạng Trinh Trung, Tứ-đức rạng thanh ngọc báu tùng. Xiêm 4 lá màu 3 tấc 5 phân, gọi gồm Bát-bửu tượng trưng Đạo Thể; 3 lá trắng 3 tấc 2 phân là thọ Năm-hằng kiêng nể Luật-điều; viền xuôi 5 phân, thuận 3 phân là Tam-tùng kính cẩn rạng tường Ngũ-luân. Sợi dây buộc Xiêm 1 thước 2 tấc là: trọn niềm Bát-bửu Tứ-qui, vẹn tròn hạnh gái qui y trí thiền, đó chung em.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Nữ-Oa Liên-Điện chung nghe, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Chơn-Quân

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC tròn huờn chưởng ứng trung bình
HOÀNG Lịnh truyền thâu trẻ trọn Linh
ĐẠI-Đức hoằng khai nền chánh Đạo
ĐẾ Quyền quang khải Huệ Diệu Minh.

THU, con nghe Thầy dạy về Đạo-phục Chơn-Quân đây chung mỗi con rõ.

Về Xiêm 8 lá lý gọi Thể thanh thành Đạo-Tướng, 3 lá để trắng, Tam-tài ứng vận, Khảm hành Kim, Hậu-Thiên vẹn trắng ngưỡng chiêm diệu hành; 5 lá viền màu đỏ là: Ngũ-thường tâm định thể thông, phủ che nhục xác ứng hồng tượng chơn; mỗi lá 3 tấc 5 phân là thể Bát-Quái Hạ-Thiên Khảm Cấn, vận Tốn Ly Chấn ứng Đoài thành, chuyển vần Lục-giáp huờn trung, du hành Nguơn-lịch Lục-đinh Nhứt Dần; hoàn trung mầu Kỷ thân bình, động tịnh thông lập Đạo gìn thể thân, là sáu mươi hai hiệp thượng hạ cần, Lục-hà Ninh-vật trí tân, hình Bát-Quái Hạ-Thiên vận chuyển Hậu khí đó.

Bố-Tử là: Trời ban Tâm-lý Huệ Thần, thọ môn Tâm-lý tồn thành Bỉnh-Linh; hình tròn hoàn trí Càn sanh, Thể chơn Tâm Tướng Khí Tinh Tâm Thần; 21 phân lý Địa-Hoàng, Tam-Tông hoàn võ, thể Tịch-Địa trí tỏ Huyền-Linh, là huỳnh thanh ứng hoàng. Vòng trắng 3 phân lằn đỏ lý Nhơn-Hoàng, Tam-tài ứng Bửu, thọ Tam-Nguơn vô hữu Càn Ly, chữ màu tím 12 phân đục lủng lòi nét; Lý Khai-Thiên Vô-Vi trung ứng, Mậu thọ Bính Đinh, Kỷ hòa Nhâm Quí trứ nhiệt, hàn Hỏa, Thủy; ký Trung Ôn hòa Lương hiệp vô cùng, giao thông xây chuyển không trung Tam-Hoàng. Thiên Kỷ, Địa Cương, Nhơn-Cang, huờn qui Chơn-Bửu, Thiên-Cang, Địa Thành Càn cung ứng Ngọ, Khôn húy ứng Tý, Nhơn quân vượng Ly, thọ Giáp, Ất.

Ca-Sa màu đỏ, thạnh Càn Cửu-Tý Hỏa-Công, điểm Huyền chiết Xích giáng lâm cứu đời; thể tượng lằn 5 dọc 9 ngang màu vàng là: Càn Khôn hiệp nhứt Thân thọ Thể cơ, lót trong màu vàng là thể tượng khí hầu lý tương sanh.

Chữ Yểm-Tự-Linh, chữ BỈNH màu đỏ 7 phân là: Thiên-Chơn giáng thế độ đời, diệt trừ thất chướng Bỉnh-Hành Bình-Linh; Xích-Quang ứng vận Huyền-Kinh, tọa thiền Bổn-Giác định bình Lục-Sơ.

Áo Đơn-phục Thầy có giải chung rồi, Y thanh Diệu-lý thường hành, Bâu màu tím là: Vô-Vi chấp vãng ứng Càn. Bâu áo về Bát-Quái là Ngọ-môn, gọi Nam thọ tiền Vô-Vi cung hiệp, Nam thọ Càn Nam thành Nguơn-khí, gọi tượng hầu Lý thạnh Chơn.

Về Đơn-phục, tiền cung Càn, hậu cung Khôn, gọi tiền Càn ứng thế Thiên, hậu Khôn thâu thay Địa, trung thâu chấp vãng Huyền-Hoàng. Đây là Ngôi-Một Nguơn-khí Thanh-Quang, chủ Linh-Hồn của vạn loại. Chánh-vị Chủ Tam-Nguơn thế Thiên, Tể Tam-Tông thay Địa, gồm Tam-Bửu giác Nhơn, là gồm Ngôi Bổn-Giác. Cung Càn màu đỏ gọi Càn vi Thiên, tường vân, phù lý hòa Xích Chơn diệu diệu rạng hồng. Cung Khôn màu đen hạ động trược hóa sanh do Thủy. Tam hóa Tam, Thủy túc lục vi. Tam Tịch, trị dục, tề huỳnh, màu đen Nhâm Quí hòa chung hậu thời. Nét Cung bề ngang 3 phân, bề dài 3 tấc là Càn Đạo qui trung Cửu Càn Cang, võ-trụ tượng hình Lục-Long Cơ-vận, Tứ-quí tượng chơn, vận hành Bát-tuyết là đó. Thể nét gọi ứng Hà-Đồ, tượng hình trí phận. Cung Khôn mỗi nét 1 tấc 2 phân 5 ly, liên tính đường sang Khôn cũng y số định.

Vậy chung mỗi con học đây rõ Lý Thể Trời bày khai, rồi nêu vào Thánh-Luật đó chung con trẻ.

THI

Chơn-Quân lâm hạ độ trần ai
Chánh-pháp giác nhơn Cửu-Tý đây
Đạo-Giáo Ngũ-châu nhìn Chủ-Tể
Đức truyền Tứ-hải thấu Tam-tài.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Diệu-Lý Tinh-Thần nơi Diệu-Linh-Đền đặng nghe, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung, rồi nêu vào Thánh-Luật.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Thầy ban lý thành lập Thánh-cuộc

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (4 giờ sáng)

-------o0o-------

CAO-ĐÀI NGỌC-ĐẾ DANH HIỆU BÌNH-LINH

THI

CAO cả Huyền-vi Thống-nhứt phương
ĐÀI tường Đại-Đạo hiệp Trung-Ương
NGỌC ngà Trời phú thành Thiên-Quốc
ĐẾ Chủ Khôn Càn lập Kỷ-Cương
DANH rạng Hoàn-cầu Hồng-Lạc Tổ
HIỆU nêu võ-trụ Việt-Nam Đường
BÌNH ninh Bốn-bể đồng chầu Hội
LINH chiếu Năm-châu thọ Hiến-chương.

NGỌC, con nghe Thầy ban dạy, con trọn vưng thọ pháp Môn-qui, Thầy ban lý thành lập Thánh-cuộc, cho trọn về Đạo Dụng, từ từ khí vận thăng bường, nêu gương Thiên-Quốc Trời Nam đó con.

Về Bát-Quái sau ngày mỗi con tạo lại cho tròn khuôn mẫu Thể Lý diệu hành đây con chung Nam Nữ, là hình Tứ-tượng vượng xây Bát-trí, là Tứ-thời Bát-tuyết giao thông, Tiên-Thiên Bát-Quái Y-Tông, xích tăng thốn trưởng Thiên-Bồng đường Nam, xích Thập-ngũ cơ qui Tam-ngũ, là Xích-Đồ Hà Địa thốn vi, Nhị từng Hà-Lạc Mầu-ky, Cao phù Thập-bát duy duy võ hoàn. Đó là chánh Trung Mầu-kỷ, Bốn-phương Tám-hướng châu toàn mười lăm. Bát-môn thượng ký Kỷ-Cang, Lạc-Thơ, Hà-Đồ huy hoàng, nét khuôn Tứ-thốn Hà an Lạc tường, Hạ qui Bát-kích thành phương, Âm Dương lai đáo phương trương y hành. Tượng trưng Thể Lý mối manh. Mừng chung con nghiệm xét rành rồi thông.

NGÂM

Cả kêu lớn nhỏ con Trời
Nữ Nam an mạng rõ thời vận sang
Trung-Thiên Việt-Quốc vinh quang
Thiên-Bồng Nguơn-Thượng Càn-cang Dương đồng.

MƯU, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Vô-Vi Diệu-Lý Tinh-Thần, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung, rồi nêu vào Thánh-Luật.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giáo Đạo Thể của Đại-Thiên-Phong Nữ-phái

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 26 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (6 giờ sáng)

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ lưu tu học rạng danh lành
OA gọi tiếng hiền phận phải thanh
KIÊM trứ năng hoằng lo trác Ngọc
MẪU khuôn khắn khít gái Trâm-anh.

Lâm Đàn chào Nam-Công-Hỏa-Đức, Kiêm-Mẫu mừng cho Nữ-phái học hành, giờ nầy mừng thay! thương chung lớp học Cao-Cấp, mỗi con định-tâm vưng nghe Lịnh Kiêm-Mẫu ban truyền đây mà học Lý, gọi rằng tuân y Thiên-Lý đó chung con.

Giờ nầy ĐẨU, LƯỢNG hai con định-tâm vưng nghe Kiêm-Mẫu ban Giáo Đạo Thể của Đại-Thiên-Phong Nữ-phái đây gìn học rõ thông Thánh-Luật Qui-củ đây hai trẻ.

Về Y-Quan Nữ-phái gọi Mão, Áo cùng Xiêm y nhau một thước tấc chuẩn thằng có một, Chánh Phối-Sư, Phối-Sư, Giáo-Sư Áo Khai-Dương 5 nút hình vuông 2 phân, lý gọi trắng trong hai lẽ trong ngoài, đây là gìn giữ thẳng ngay Năm-hằng, là phận Nữ-lưu Đạo-đức đó. Bâu Áo 1 nút hình tròn 1 phân màu trắng, là Tinh-anh nhứt điểm, thể Kim trạch Tài, Đầu-Sư 9 nút hình vuông màu tùy Cung, Đầu-Sư dìu dẫn Đạo-Đồng, Cửu-tuần ứng vận tinh-thần phát minh, Quang-huy khai khiếu thiệt hằng, Qui khai Cửu khiếu Sen-vàng Cửu-Nghi; Bâu 1 nút hình vuông màu trắng là Nữ-lưu Tín-Đức vuông đồng, Tinh-Quang nhứt điểm trắng trong thể hành. Viện-Trưởng 10 nút hình vuông màu tùy Cung, Cổ 1 nút màu trắng hình vuông lý gọi Nữ-lưu cho vẹn Năm-hằng, gồm thâu Tứ-đức vuông phần khiết tham, Tứ-Qui lòng vẹn Hạnh tồn, nưng cao Tinh Điển Quang tri Đoài thành. Thẻ Áo Thường, Tiểu, Đại-phục gọi Phẩm phận đồng nhau, từ Lễ-Sanh đến Đầu-Sư tấc phân bề ngang đồng như một, Thọ Thiên-phẩm vẹn tròn Cửu-phẩm, thể Thẻ 9 lớp, dài 65 phân là trọn Tâm-lý Lục-thông ứng vận, thấu Năm-hằng Cung-phận hiếu sanh, bề ngang trên 36 ly, Tam-thập-lục Thánh tri quang thể dụ, dưới 45 ly, lập Chơn-thể rõ Thân vàng ngọc; Hạnh, Khiêm, Từ thận-độc Nhượng an; Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ròng; lập thành vóc Ngọc vén màn trần ai. Thẻ phẩm Giáo-Sư 6 lớp 6 tấc, diệt Lục-dục Lục-thông hiển hiện, lập Tam-chơn Hạnh-kiểm Tam-tài, vẹn xong Nữ-sĩ từ đây, chung nhau mỗi trẻ xuân thay giữ gìn.

THI

Giữ-gìn Thanh-nữ hỡi chung con
Hướng Đạo dìu Nhơn trẻ gắng công
Thiên-tước Sắc-ban thông vận-mạng
Phát minh cơ-hội Bá Sơn Tòng.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Nữ-Oa Liên-Điện đặng trong đó mỗi trẻ học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo Thể, Dụng, Chơn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 7 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ chiều.

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thân trong sạch mới là nên
LIÊN hiệp trước sau Đức dựng nền
TIÊN tục biện minh lòng sáng suốt
NỮ-lưu em hỡi nhớ đừng quên.

Chào mừng chung Nữ-phái, trong lớp học Cao-Cấp Tinh-Thần giờ nầy nơi Nữ-Oa Liên-Điện giờ rồi học vừa vẹn chung em nghe Chị phân tỏ Đạo Thể, Dụng, Chơn đây mà dò lý mẫu khuôn chung học. Giờ đây ĐẨU, LƯỢNG hai em vưng lời chơn giáo lý sáng Chị truyền.

Về Phối-Sư Lạc-Thần-Phong Mạo dài 1 thước là: trọn mười hậu cố nhơn từ, võ nghê phướn phất tinh xuê đường hoàng. Giáo-Sư Lạc-Thần-Phong Mạo 9 tấc là: Cửu Căn đốn tiệm thạnh hành, hậu tồn tiền kính thể thành hảo ly. Lúp Phối-Sư 1 thước dài, phẩm nghi tròn vẹn trọn mười; Phối Thiên, Phối Địa Ta Người hoàn trung. Lúp Giáo-Sư 9 tấc là: sen vàng chín phẩm Thần Tiên, tượng trưng thể lý giác viên chửng thằng. Lúp Thường-phục Chánh-Phối-Sư, ứng 5 cung hình tượng chung y khuôn-mẫu; về phân tấc là 8 phân mỗi cung, gồm 5 cung; Chánh Phối-Sư 72 ly cũng gồm 5 cung y thể, nghĩa là: Năm cung chánh phận phối tam, Hư-vô Tam-giái Hoàng-đồ hòa năm. Phối-Sư Tam-tài kính trọng trọn thờ, rõ thông Tứ-đức âm dương kích bình; Gồm chung Cửu-chuyển đầu tin, đó là thể dụng lý gìn trác trau. Giáo-Sư Năm-hằng hai lý tay trao, một niềm nhặt nhiệm trước sau chung hòa. Phối-Sư tạo 2 chữ Nho nhỏ 3 phân tròng trắng chữ theo màu cung; hai chữ HUỆ kết vào Lúp Thường-phục, cùng Tường-Liên Cô-Lạc, là Lúp đi hành Đạo, thể y Đầu-Sư, Viện-Trưởng, Chánh Phối-Sư vậy; Lý gọi rằng ứng tường trí huệ nữ trinh, danh lưu phối hiệp thể minh lý bình. Giáo-Sư tạo 2 chữ TRÍ chữ Nho khuôn mẫu đồng y, lý gọi: thọ chánh Giáo-Sư minh tế thế, hạnh trí-tri can phế Tân-dân. Về Lạc-Thần-Phong Mạo, chung phận Nữ-phái, cung nào màu nấy. Bề ngang trên 4 phân, dưới 72 ly, dài tùy tước phẩm, là bốn trên Tứ-đức cận kề, 72 là chín tu tề Cửu-căn; Hậu-Thiên trỗi lý sáng tăng, phát minh khải lý trang bằng thanh phương.

THI

Nữ lưu danh rạng hỡi nầy em
Xác gọi tục phàm lý trọn xem
Trỗi lý Tân-dân tường Vận-hội
Noi gương Thánh-Mẫu chí khai rèm.

Kính chào Nam-Công Hỏa-Đức Thiên-Chơn, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Liên-Điện, đặng chung định rõ lời, giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể lý thanh

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ sáng)

-------o0o-------

Thầy các con, mỗi con định-tâm nghe Thầy dạy.

THI

CAO-ĐÀI THỐNG-NHỨT chớ là riêng
ĐẠI-ĐẠO QUI-NGUYÊN chỉnh mối giềng
Phận sự mỗi con mau gắng chí
Truyền ban lý thiệt chánh chơn nguyên.

Thầy mừng THU con, giờ nầy con định-tâm vưng nghe Thầy dạy truyền Đạo-Thể lý thanh đây con, đặng chung nhau mỗi trẻ học hỏi rõ lý pháp môn, Lý Thể Dụng hành rỡ ràng tâm-lý Chơn-Đạo Chánh-thể Mỹ-thuần đó chung trẻ.

Về Đạo-Thể Thần-Hồn diệu hành duy duy tri Đạo, thể Đạo-phục, lý gọi Đạo y trí dụ, là áo Chẹt mặc đi hành Đạo, thước tấc diệu pháp chung qui; phần bâu áo viền 3 lằn đỏ, vàng, xanh lý gọi Tam-bửu: Thần, Khí, Tinh; về Tam-tài gọi: Huyền, Xích, Quỳnh; về Tam-giáo: Nho, Thích, Đạo; về Tam-lương: Tri, Năng, Diệu. Nghĩa là: phần người tu gồm Tam-bửu giữ gìn kiên cẩn tại tâm, mới quang minh Cương-kỷ, mới đắc Đạo, phải lập thành Công-đức, mới đức đủ, phải chỉnh đoan; Nguơn-Thần là: sắp sang hữu dụng là hình xác vững Nguơn-Thần là trí tâm không, dứt điều tham luyến gọi lụy tri ái dục, tuyệt dục vững Thần, Thần vững Khí thanh, vẹn khí thanh là tâm hưu rõ thông lý sáng, là dứt tánh sân, khí thanh, Tinh trọn, vẹn Tinh trọn là Tam-tỉnh, là giác thân triêu tịch, người xét người mới phải người thanh. Trong chỗ thanh thông rõ Huyền-trung, là nơi mầu cơ máy sáng của Tạo-Hóa. Công-bình luật trị thưởng vô tư, sát Huỳnh hoàng ứng, là tránh chỗ luyến tục, đắm luyện trần mê. Vẹn vậy rõ thông Tam-tài Đạo trọng, quảng đại sánh Càn Dương, Bác-ái sánh âm pháp, Khôn minh Từ-bi hòa khí sánh thời cơ vận chuyển là Mỹ-thuần Phong-cương lý huệ. Vẹn vậy mới giàu lòng Bác-ái, Trung-thứ sánh trọn nghĩa-phương nhu sĩ, an dạ Cảm-ứng Huyền-pháp, Pháp-luân, suốt thông Cửu-chuyển sánh cùng Tiêu khí Tinh quang. Từ-bi trọn dạ, khí tượng tăng qui, sánh cùng Thiên quang, Nhựt phẩm, Nguyệt phướn, Tường cơ, chung qui lý gọi Nguơn-Thần, giáo chỉ khuôn khai, mẫu hóa rạng hồng đó.

Hai tay áo mở vô 1 tấc, đóng 2 nút đen, trắng là: Nhứt tri môn vẹn tùng qui, khai Hoàng cơ thể duy duy thanh từ. Nút đen Dương minh Thủy đức; nút trắng luyện khai thạnh Kim, trí tri thanh bạch. Nút 3 phân hình vuông là từ tâm mẫu quảng, củ-qui tri chơn, giác Kỷ Cương hòa khuôn viên. 12 nút áo màu trắng hình tròn, là từ tâm khai khiếu Kim sanh. Trên bâu 1 nút 1 phân màu đỏ, đó là Kim sanh Hỏa khắc bạch thanh khử tà; vững vàng tâm-lý Cao-Tòa phương trương. Cơ pháp sư thu thâm tuyền, Thần-Hồn Đại-Đạo trấn nguồn, lý là Tịch-Địa xuân đồng thuần cơ; thới thanh Thiên-lý Thượng Sơ, Tam-Hoàng Huyền khí Bổn-Sơ Thượng kỳ.

THI

Thượng-Nguơn khai dựng hiện giờ đây
Sơ-hội phương trương rạng rỡ ngày
Chỉnh lập Tam-Hoàng thanh thới vận
Thánh thanh Đức tỏ ứng Huyền-cơ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Diệu-Lý Tinh-Thần Cao-Cấp nơi Diệu-Linh-Đền, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Thánh-Tòa có ba cảnh như nơi nào lập thành Thánh-Thất

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 10 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ chiều)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC trắng lại trong quý báu lành
HOÀNG-đồ Đạo-Đức trẻ cần thanh
ĐẠI-ân võ lộ chung con trẻ
ĐẾ Chủ muôn loài pháp luật danh.

NGỌC, con định-tâm vưng nghe Thầy ban lý dạy truyền, về hữu vi Thánh-Cảnh, rõ rạng thanh thể chơn duy đây con trẻ.

Về phần vận chuyển cơ thể sắp khuôn mẫu, là Thánh-Thất chi tiết của Thánh-Tòa có ba cảnh như nơi nào lập thành Thánh-Thất, phải gìn đây khuôn mẫu là:

1.- Hình dài Cửu-Trùng-Đài 36 thước, 9 căn, mỗi căn 4 thước, có lầu không, chuông, trống.

2.- Là 27 thước, 9 căn, mỗi căn 3 thước, hình ngang dầu đâu là 9 thước.

Số 1 có hạ hiên, mỗi bên 3 thước chung qui là 15. Không nên lập Hiệp-Thiên-Đài, hoặc vẹn hành là mặt dựng trước thể lầu chuông, trống, chánh tim làm nóc bằng kề theo chuông, trống.

Về Bắc-Khuyết, lập Ngôi-vị Tứ-Linh, hình Tứ-Tượng, đặng vẹn thờ ngôi vị Nguơn-Thần, nóc bề cao:

Số 1 là 9 thước Cửu-Trùng (Tứ-Linh 12 thước).
Số 2 là 7 thước 2 tấc (Tứ-Linh 9 thước).

3.- Về bề dài Cửu-Trùng 15 thước 5 căn, mỗi căn 3 thước, bề cao 6 thước 3 tấc (Tứ-Linh 8 thước 1 tấc), hình ngang 9 thước tạo mặt dựng hoặc thanh lầu chung Thánh-Thất có nóc cao nhọn, không ngăn từng.

Tứ-linh số 3: Là lớn nhỏ tùy nơi phương tiện.

Nơi Thánh-Thất không đặng lập Phổ-Đà hay là Tây-Thiên Điện. Chung qui lập Đông-Lang, Tây-Lang hoặc Hậu-Đường là vẹn.

Vậy mỗi con vẹn hành, lần lần sáng suốt minh quang, Thánh-Thất thâu định Thánh-Nhơn, Diệu-Thể Thánh-Học Đường-Chơn, gọi Đạo-Tràng cứu thế đó.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Diệu-Linh-Đền , đặng chung mỗi trẻ học chung rõ lý, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Chánh thể Chơn-phục Đạo-lễ Anh-Hồn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC tốt Thầy ban trẻ gắng cầm
HOÀNG-đồ Tứ-đức khải huyền thâm
ĐẠI-đồng con cả mau chầu Hội
ĐẾ-Khuyết vun bồi Đạo-đức tâm.

THU, con định-tâm nghe Thầy phân giảng chánh thể Chơn-phục Đạo-lễ Anh-Hồn đây con trẻ.

Đạo-phục diệu hành, Y-thanh Thường-dụng, là Áo-Chẹt đi hành Đạo, đóng 12 nút trắng, mỗi nút 3 phân gọi tương giao, tương cập Thần-Hồn. Bâu áo viền 3 lằn xanh, vàng, đỏ; mỗi lằn 1 phân liên nhau gọi Tinh, Khí, Thần gọi tinh giác cảm qui, khai Hậu-Thiên sanh hóa, ký tế Thần-Hồn, Tiên-Thiên, Hậu-Thiên, Thần, Anh giao tế, thọ Linh-Hồn vạch hé Vô-Vi là màu tím. Áo chẹt mở tay 1 tấc. Đóng tay mặt 1 nút màu đỏ hình vuông; bên trái 1 nút màu trắng hình vuông, đồng 3 phân, lý gọi: noi chánh lý ngăn ngừa nẻo dại; đỏ là tâm, trắng ấy phế tăng; Thần, Anh giao tế cân phân, Anh minh Thần vững Tân-dân thạnh thời. Áo thước tấc khuôn mẫu Tam-Hồn qui nhứt, đồng lý, thể y. Về Đơn-phục Anh-Hồn, thước tấc mẫu-khuôn y thể, tiền thọ cung Càn màu đen, Hậu cung Khôn màu đỏ. Về Thần-Hồn Đơn-phục y lễ tiền cung Càn màu đen, hậu cung Khôn màu vàng nghĩa là: xanh thuộc Mộc, Mộc năng sanh Hỏa, lý Háo-sanh tiền hóa hậu thâu; Càn Khôn sanh hóa phán thâu, Anh-Hồn sáng suốt làu làu tế Linh. Thần-Hồn: tiền cung Càn màu đen thuộc Thủy; hậu cung Khôn màu vàng thuộc Thổ: Thủy khắc Thổ rửa tan trần bụi; thọ kiêm sanh thanh thủy phục khôi; Thủy thanh Thổ tịch phản hồi, đây là Thổ tướng Huyền-khôi Kim-thành. Càn Khôn phản khắc Thần thanh; Anh minh sanh hóa Thần, Anh, Linh tồn.

Thần-Hồn chữ Yểm-Thần Linh-Tự chữ KHAI, gọi khai trược Huỳnh thông Khôn trí. Chữ hình vuông 1 tấc màu đen là: Thần tròn vuông tấc mẫu khuôn; Hậu Thiên hành Thủy thuộc Khôn trí Càn.

Anh-Hồn chữ HUỆ màu xanh, hình vuông 1 tấc; khai hành thủy thanh sanh huệ lý; Thần-Hồn an Tinh, Khí thông lưu; tấc lòng vẹn giữ khâm khưu, Anh minh Thần quảng Linh thông lưu bình. Về lý là: Thần tròn phản khắc trần ai, rõ Trời khai Khảm thọ thay Thánh từ; Anh-Hồn sanh khắc hóa trừ, huờn Linh ký tế chủ ư Bí-huyền; Tinh hay xem xét hậu tiền, tiền sanh hậu khắc giác viên Tinh tồn. Khí chơn vẹn vẻ bảo tồn; thâu Tinh, Thần sát rặt ròng Thần an. Tam-Hồn qui nhứt vén màn, phản sanh hóa khắc châu toàn phẩm nghi. Càn Khôn võ trụ Hóa-nhi; Nguơn, Hanh, Trinh, Lợi duy trì bình phân. Âm Dương nhị khí Tam-Tôn, gọi là Tam-ngũ Đạo phân Hậu Tiền. Thần-Hồn thanh vẹn giác viên; Anh-Hồn chơn-giác phách Huyền-Hoàng cơ. Linh-Hồn thông đạt Hậu Sơ; Tam-Hồn thành trụ gọi cơ vận hành. Lưu thông Tam-giái hóa sanh; Tiên-Thiên hậu chuyển vận hành không ngưng. Đạo thông Tam-lý Đạo-xuân, Đời hòa Tam-thể cơ tuần bình an.

THI

Bình an trật tự rạng thương hòa
Tam-Lý rặt ròng thấu Mẹ Cha
Tam-Thể cơ tuần huờn vận mạng
Tam-Tài Ngũ-Đẳng thống qui đa.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn, đặng chung lớp học mỗi trẻ nghe chung. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Khuôn mẫu Thánh-Duy Bửu-Tòa Thánh-Cảnh

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ chiều)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Châu tỏ rạng khắp phàm gian
HOÀNG-Lịnh phán phê hữu nhứt tràng
ĐẠI-Hội Quần-Linh cân xét tội
ĐẾ quyền phân thưởng cả Dinh-hoàn.

NGỌC, con vưng nghe thầy ban ơn dạy chỉ khuôn mẫu Thánh-Duy Bửu-Tòa Thánh-Cảnh đây con trẻ. Vậy phận con thọ phận Cửu-Trùng, hành vi Thể, Dụng con vẹn an lòng thành lập hai Ngôi gọi Thánh-Phước Nhị-lý:

1/ là Đông-Thắng Thần-Châu Thánh-Cảnh.
2/ là Tây-Ngưu Thần-Châu Phước-Cảnh.

Hai cảnh nầy lập ngoài Ngũ-Hành-Tòa cùng Nữ-Oa Liên-Điện, Nhị-Lý đương diện. Thành lập để cho Thiên-Thần Nam Nữ cư túc hành Đạo, cùng học đường, trác lý thọ chơn huy hoàng Thánh-Cuộc đó con.

1/ Đông-Thắng Thần-Châu kỳ Dương Thánh-cảnh, lập trước gọi ngoài Ngũ-Hành-Tòa: bề cao 12 thước, 3 từng, 2 từng lầu, 1 từng trệt. Bề lớn hình vuông 18 thước. Thượng lầu, nhị-hiên, trên dưới đồng thanh. Tứ-châu thông hoát, kiểu cách thanh kỳ, Thần Tiên quang trí; phương trương trung khí, Chơn-Lý Thể, Dụng, Vô-Vi bất dịch đó trẻ.

2/ là Tây-Ngưu Thần-Châu Phước-Cảnh, gọi Tây Hạ Bộ Thanh, thúy kỳ Đoài túy đó trẻ. Dụng, Thể hai cảnh in nhau, gọi giao tương nhứt lý đó.

Lần đây, Thầy thâu chọn ba trăm năm chục Thiên-Thần hộ trì Cửu-Tý, phán đoán huy hoàng, Bình-Linh Hoàn-Hội Thượng Kỳ. Thầy chọn ba trăm năm chục Phước-Thần, thiên kim trí trạch, đặng hộ quang trì diệu, Thiên-Chơn Huệ-Luật Sơ-Hội Thượng Qui, dẹp an thiện ác, là lý đó. Gọi đương nhiên chơn dụng, diệu hành Qui-Pháp.

Vậy con trẻ vưng y, tuần cơ khải lý.

THI

Thiên-Thần lâm hạ hộ Nam-Công
Giúp đỡ thừa vưng Cửu-Tý không
Phụng mạng Thiên-Chơn trừ tróc quái
Độ an vận mạng Thượng-Nguơn đồng.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đặng mỗi trẻ học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, thỉ đề chung hản, nêu vào Thánh-Luật lưu hậu nhiệm qui.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải Đạo-phục của Thiên-chức, Thiên-ban sắc phẩm

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (5 giờ sáng.

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-sĩ từ đây quyết thoát mù
OA tường chánh nghĩa bởi nhờ tu
KIÊM thông Chơn-pháp do tri lý
MẪU thuận khuôn hòa hiệp trí ngu.

Mẹ Kiêm-Mẫu mừng chung lớp học hiện hành, đặng đủ tinh thần phát triển vẹn dạ cổi mù thoát tục, lo tu học lý tránh chỗ nhố nhăng, định-tâm đồng hòa thương yêu mến nhau về Đạo-lý, chung thuận Thiên-lý hội ngộ bạn lành, dẫn nhau về đến Đại-Thành hưởng ân Thiên ban tứ. Giờ đây HỚN, TÀI, LƯỠNG, LIỄU; bốn trẻ vưng nghe lời Mẹ giảng giải Đạo-phục của Thiên-chức, Thiên-ban sắc phẩm đây mà học chung trong mỗi trẻ.

Giáo-Hữu lúp dài 8 tấc; Lễ-Sanh lúp dài 7 tấc; Lúp Đạo-Hữu dài 6 tấc. Giáo-Hữu lúp dài 8 tấc là: về Bát-Bửu thọ thân tiên thủ; Lúp Thường-phục, Đơn-phục viền 5 cung đồng chung Nữ-phái, mỗi cung 63 ly là: phận Giáo-Hữu Cửu-căn ứng chuyển, sáu hòa ba phân biện Khôn Càn; Đó là tiền thủ vinh ban, tuần ư tế vận vẹn toàn Nữ-lưu. Lúp Thường-phục cùng ngạch Mão gắn chữ TÍN màu theo cung, kiểu cách chung qui, gọi Giáo-Hữu hòa thân chung bạn, trọn đề huề tâm rạng Tín Trung. Về Lễ-Sanh, Lúp Thường-phục, Đơn-phục dài 7 tấc y Lúp Đại-phục. Thường-phục, Đơn-phục viền 5 cung, mỗi cung 62 ly gọi: Về cấp phẩm Tam-tùng Tứ-đức, cập tinh-quang phẩm tỷ Thần thông; sáu hòa hai lý lập công, Nữ-lưu lục đoạn rặt ròng lưỡng tri. Lúp Thường-phục, ngạch Mão gắn chữ LỄ, lý gọi: vào cửa Lễ cung nghinh học tập, định triều Thiên rèn tập về lành. Mão Giáo-Hữu, Lễ-Sanh, Lạc-Thần-Phong Giáo-Hữu 8 tấc bề dài, gọi: hậu kỳ bát-tuyết tinh quang. Lễ-Sanh 7 tấc là: Thất-chơn tự giác tâm trung, trừ tan tình ý hậu trang tánh bằng. Thẻ áo 3 lớp tùy màu y cung, 55 phân hình dài là: năm lành nhờ vẹn Năm-hằng, Tam-qui tùng lý trang bằng Tam-chơn. Lễ-Sanh 1 lớp hình dài 5 tấc là: vừa gieo mạng thọ cung Tín Lễ, gìn giái răn năm phải kiền thân. Về Giáo-Hữu, Lễ-Sanh vừa thọ tước Thiên-sắc gọi Thiên-phong, áo Trung-Thiên tín dụng. Về Thiên-chức Nam Nữ Thiên-phong, Đại-Thiên-phong: thẻ trắng gọi Tiên-phong, lý gọi phó cho tước vị hiện đó nên y lớp cùng thước tấc mẫu khuôn.

Về Đạo-Hữu, Lúp trắng dài 6 tấc, lý gọi khai huỳnh gieo mạng hòa Khôn; màu trắng gọi là chưa thọ tước. Xiêm khuôn mẫu y một nhưng không có viền. Thẻ áo 1 lớp 4 tấc màu trắng lý gọi: nhứt tâm triêm ngưỡng mẫu khuôn, ngán Đời theo Đạo tròn vuông vưng hành.

Vậy chung lớp học mỗi con định học xét lý lần lần Kiêm-Mẫu dạy thêm.

THI

Phẩm nghi rạng rỡ Luật chơn truyền
Phận trẻ học hành gắng cố kiên
Lo vẹn phận mầu tồn tánh đức
Thiên thu danh rạng gọi miên-tuyền.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức Thiên-Chơn, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Liên-Điện đặng trong đó Thanh-Bộ thể hành nghe chung rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải vẹn phận chung qui

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 7 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thân trong trắng mới là thanh
LIÊN hiệp chung tu vẹn vẻ lành
TIÊN Bụt cũng là tri giác phận
NỮ-lưu em hỡi nhứt tâm thành.

Bổn-Cô mừng chung lớp học hiện hành Cao-cấp vừa rồi biết bao là tinh thần tiến triển, Bổn-Cô đáng mừng thay! Vậy chung mỗi em từ sứ vụ Thánh-Hội Thể-duy, Thiên-ban Đức hậu, Thiên-Thể, Thanh-Bộ Từ-Hàng, Thiên-Lý Đạo-Cô, chung mỗi em giờ nầy định-tâm Chị giảng giải vẹn phận chung qui, đây là Đạo-Thể khuôn viên đặng nêu vào Thánh-Luật roi hậu chơn truyền. Về phần mỗi em sửa trau y vẹn nay đến lễ Tu-My cho xong mỗi phận đó chung em. Về Nữ-phái Thanh-Thúy Liên-Hoa, gọi liên-đằng hoán hậu, đóa thanh, thẻ Mão Bộ Cô gọi Tuyết-Lệ-Liễu, hình dài: Đầu-Sư 12 tấc, hình ngang trên 4 phân, dưới 8 phân, gồm 5 cung màu, cung phận trung tim, sắp liên huờn thể Tường-Liên-Kiết vậy, gọi rằng: Tuyết-bạch Nghê-vân hộ mạo huy, Lệ minh võ điệu nữ thanh y; Liễu bồ ứng bạch phương trương Đạo, thể dụng hảo sanh phướn phất tùy. Viện-Trưởng thẻ Tuyết-Lệ-Liễu Thúy-Mạo hình dài 9 tấc gồm 5 cung kết liên thể như Đầu-Sư khuôn mẫu, hình ngang trên là trước, dưới là sau, y chung khuôn mẫu thước tấc qui nhứt. Chánh Phối-Sư thẻ hình dài 9 tấc, 4 cung kết liền, liên huờn y thể. Phối-Sư 9 tấc hình dài, 3 cung màu kết liền y thể. Giáo-Sư 8 tấc hình dài, 3 màu cung, kết liền y thể. Giáo-Hữu thẻ 8 tấc, 2 màu cung y thể. Lễ-Sanh thẻ hình dài 8 tấc, thẻ 1 cung màu phận, hậu thẻ lót trắng.

Đây là khuôn-mẫu; giờ học hỏi Chị tỏ lòng chung mừng mỗi em vẹn phận. Kể từ đây càng trỗi thêm cho xứng đáng Đạo-đức cột rường của Trung-Ương Thánh-Cuộc Tòa-Thánh Việt-Nam, Môn-đệ Cao-Đài, Phật, Tiên, Thánh, Hiền, Thần quan ngự nơi Thiên-Quốc, rồi đem Đạo-lý khải ban cho Đời học tỉnh đó chung em.

Vui thay! mừng thay! Đại-Thành hầu ứng, Thượng-Hội tương tề, thới thanh tỏ dấu đó chung em. Hỷ hoan y ỷ.

THI

Mừng thay Đạo-lý khải-thông truyền
Chánh-pháp nguyên lưu đức cố kiên
Thiên-Quốc thới thanh Châu-Thiệm ứng
Lạc-Hồng con cháu thỉ-chung nguyên.

Bổn-Cô kính chào Nam-Công Hỏa-Đức Cửu-Tý Thiên-Chơn, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Liên-Điện. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giải nghĩa Đạo-Thể Anh-Hồn, Thần-Hồn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc chỉnh đoan mối Đạo Trời
HOÀNG-đồ khai mở khắp nơi nơi
ĐẠI-ân Thiên-tứ Huyền ban lộ
ĐẾ Chủ đoán phân luật sửa thời.

THU, con nghe Thầy giải nghĩa Đạo-Thể Anh-Hồn, Thần-Hồn đây, lần dò đây gìn học rồi roi hậu chơn truyền, gọi rằng mẫu khuôn Thánh-Luật đó chung trẻ.

Về Đạo Lễ-phục Anh-Hồn: viền 11 lằn xanh 1 phân, 1 lằn 3 phân màu xanh là: Anh-Tinh thủy bích tri thỉ túy, năng hóa sanh cơ hội tế gian; Thủy năng sanh Mộc rõ ràng, đó là Vô-Thỉ Thủy tàn bí quang. Đó là khí sáng Càn cang, nước Tinh chiếu Hỏa, Hỏa thông tiền kỳ; hóa sanh ứng Mộc lập đời, Anh-Hồn huy chiếu chói đời an Xuân. Viền 11 lằn tay áo, cổ áo đó là: số Cửu-chuyển Tam-quang khí hạp, quang kỳ Ly, Ly thuận Tam-huyền; Lần lần sanh hóa lý yên, Đạo người sáng suốt do Huyền-Linh thông. Anh-Hồn hòa khí suốt thông, cơ-quang ứng chuyển dựng đồng tề tu. Áo đóng 12 nút trắng 3 phân, trên bâu đóng 1 nút 1 phân hình tròn màu xanh đó là: tinh duy nhứt điểm Ly ứng cảm chơn, Tiên gia ứng lý giáo nhơn Duy tinh duy nhứt chẳng sờn điển quang.

Về Thần-Hồn, Đạo Lễ-phục viền tay, cổ áo 11 lằn đen 1 phân, 1 lằn đen 3 phân là: Thần là xác Nguơn-Thần hậu cố, gọi Thần-Hồn giản tố thể chơn; Đó là hành Thủy sắc huờn, Thủy kỳ tiền Thỉ Hậu phương thể hành. Đây là hành Thủy Thổ sanh, cơ quan vận chuyển tâm thành Qui-nguyên. Trên bâu đóng 1 nút màu đen 1 phân là: hành Thủy hậu trí về xác vật chánh thể trị tà; Gọi rằng Tịch-Địa âu ca thạnh hành. Tam-Hồn qui hiệp mối manh, Thần là Hậu khí Tinh Anh tiền đồ. Qui chung Tam-thể qui mô, Tam-Hồn ứng vận là tô điểm lành. 12 lằn viền lý gọi: Qui Cửu-chuyển hòa quang Tam-Lý, Huyền-Quang Huyền-Linh khí Huyền-Năng; Tam-Huyền luyện tập năng hoằng, Tam-Hồn qui nhứt là tràng tu lai. Thần-Hồn là thể vững tài, Anh-Hồn ánh sáng trong ngoài rọi soi; Linh-Hồn quảng xuất truyền roi, Tam-Hồn qui nhứt đặng hồi khí quang. Vẹn đây cơ hội rõ ràng, Tam-Chơn bửu lập hành tàng vận qui. Tam-Giáo gọi hiệp nhiệm kỳ, Tam-Huê xuân cảnh Tam-Hoàng khai quang. Vén màn thế sự bình an, định truyền lý sáng vẹn toàn Tam-Tông. Tam-Tôn vận khí xuân đồng, đó là Trời chiếu ân hồng thế gian. Chung qui lập mẫu thành khuôn, dựng Nguơn mở Hội Tam-tào thông lưu.

Vậy chung lớp học, chung mỗi con vưng tín dò đây học hỏi sửa mình, rõ cơ Trời sắp dựng, mỹ-thuần Tân-đân đức rạng thanh lý giáo truyền đó chung mỗi trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Lý-Tinh-Thần nơi Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền hiện giờ đây. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

LẬP BÀN-CAI-QUẢN THÁNH-THẤT

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 10 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc chiếu soi khắp cõi trần
HOÀNG-đồ độ dẫn cả muôn dân
ĐẠI-ân tế cấp đem về Đạo
ĐẾ Chủ Càn Khôn pháp luật cần.

Thầy mừng thay! con trẻ chung nhau học hỏi lý thiệt Trời bày; kể từ đây mỗi con y hành, Thầy ban lời giáo dục cho rạng rỡ lý thiệt mỹ-thuần đây con trẻ.

Giờ đây NGỌC, con định-tâm nghe Thầy ban dạy cho rỡ ràng khuôn mẫu Hiến-chương Đạo-đức, qui củ chánh chơn duy nhứt đó trẻ; là Đạo-pháp kiền-thiền pháp môn tinh trí. Khắp Thánh-Thất từ đây sắp đặt khuôn mẫu về một Luật, thể hành diệu pháp đây là: “LẬP BÀN-CAI-QUẢN THÁNH-THẤT”.

1- là Hội-Trưởng.
2- Phó Hội-Trưởng.
3- Từ-Hàn.
4- Phó Từ-Hàn.
5- là Thủ-Bổn.
6- là Phó Thủ-Bổn.
7- là Thông-Công Quản-Viện.
8- là Thông-Công Lương-Viện.
9- Thơ Ký.
10- là Phó Thơ Ký.

* Về Nữ phái là:

1- là Thông-Quan Tri-Viện.
2- là Thông-Lương Tri-Viện.
3- là Thông-Lý Nhơn-Viện.
4- là Giao-Tế Nhơn-Viện.
5- là Hộ-Tri Dụng-Viện.

Về Hành-lễ, Hội-Trưởng chứng Đàn thời Tý, còn mỗi thời khác mỗi phận hiện hữu dầu ai chứng Đàn đồng vẹn. Phải có Lễ-Viện Nam cùng Nữ vậy cho tròn. Phải có Nhi-Đồng hành phận lễ triều. Mỗi Thánh-Thất phải cấp Đồng-Nhi về Tòa-Thánh, phải hành phận 2 năm, không thì phải thường trình châu đáo mới vẹn phận.

Vậy mỗi con y hành cho rạng rỡ minh quang, chớ nên di dịch hay canh-cải mà sai chơn-truyền đó trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng đặng trong đây mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo Lễ-phục Anh-Thần-Hồn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (2 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc lịnh ban thể thúc kềm
HOÀNG-đồ vưng dạ dựng thành êm
ĐẠI ban Đạo-luật Chơn-truyền luận
ĐẾ Chủ mẫu khuôn chớ bớt thêm.

THU, con nghe Thầy dạy Đạo Lễ-phục Anh-Thần-Hồn đây con trẻ, để roi giáo qui-củ chơn truyền hậu cố.

Về Anh-Hồn, Đạo Lễ-phục Thường, Tiểu, Đại-phục, trôn viền 1 lằn đỏ 3 phân, mở đinh, trôn hậu 3 tấc, gọi bỉ thương chiếu tinh quang Anh chủ, hậu hồng quang qui-củ Xích-Huỳnh. Về Thường-hành Đạo-phục, gọi áo mặc hành Đạo, trên bâu đóng 1 nút 1 phân hình tròn màu vàng. Áo Khai-Dương đóng 12 nút màu trắng 3 phân hình tròn là: Noi chánh lý ngăn ngừa tâm loạn, Thọ Anh-Hồn rạng rạng tinh duy. Thổ sanh Mộc tướng Anh tri; Mộc, Kim tương khắc trược phi thanh tồn. Khuôn bầu tròn vẹn chủ không, dưới Tam-qui giác điểm tông chiếu kỳ. Đó là nhứt điểm tinh duy, huỳnh tăng cảm-ứng Tiên trì Nhựt đăng. Cổ áo 3 lằn xanh, vàng, đỏ là: Tinh thông, Khí nhẹ, Thần tồn; tế giao Thần trọn bảo tồn Vô-Vi. Thẻ áo 12 lớp màu xanh, hình dài 12 tấc, để hộ tùng Đạo lễ Thường, Tiểu, Đại-phục. Thẻ hình ngang, trên 36 ly, dưới 63 ly, y khuôn qui củ. Thẻ 12 lớp, 12 tấc là: Thông Tam-lý vần sang Cửu-chuyển; Nhơn Tam-lương Địa ứng Tam-năng; Thiên cơ thấu lý Tam-quang; gồm chung huyền khí, hoàng an đẳng tề. Thông Tam-huê đề huề giáo hóa; trưởng dưỡng sanh cao dã kỳ Thiên. Thẻ màu xanh Tiên ban huệ tâm thanh cảm, là: Thượng-Hoàng xanh toản phách quang, gọi rằng tôn tín giác Càn Ly qui. Thường hành Đạo-phục, mở hai tay vào 1 tấc, đóng nút, bên dương 1 nút 3 phân hình vuông màu xanh, bên âm 1 nút 3 phân hình vuông màu đỏ, là: Thanh kỳ Dương, Dương khí chiếu Thanh Hoàng Tinh, là Trời Chủ; Hồng kỳ Âm, Âm trụ Huỳnh cơ, hình vuông vi tác hạnh nhơn diệu hành, cố kiên Tứ-đức hậu chơn nghĩa đồng; thông Sơ Thành Nhị-pháp huờn Tam là vậy.

Áo hình dài phủ gối 3 tấc, qui củ nhứt khuôn, đồng qui chung thể có dạy rồi.

Về Xiêm viền tấc phân y khuôn mẫu có dạy rồi. Viền màu vàng là nương vượng giao thông, thông Bổn-Giác, Anh-Hồn là thể đó.

Về Thần-Hồn, Đạo-lễ Thường, Tiểu, Đại-phục, mở hậu trôn, đinh 3 tấc. Viền 1 lằn xanh 3 phân là: Nguơn-Thần thể Hậu-Thiên Huỳnh trí ốc trụ, lý khai cơ dưỡng dục vật ninh. Áo đóng 12 nút 3 phân màu trắng hình tròn. Bâu 1 nút màu đen hình tròn, có giải nghĩa rồi. Xiêm viền phân tấc y khuôn mẫu. Viền màu vàng là giao tế với Anh-Hồn, gọi có xác, xác cần phải sạch sáng đặng rõ linh, linh nguyên bổn hản tồn vong. Thẻ áo màu đen 12 lớp, 12 tấc hình dài, hình ngang trên 36 ly, dưới 63 ly, y khuôn mẫu có dạy rồi. Thẻ màu đen là: hậu phương lý trị thủy, thâu tánh phóng, gọi hậu tự hắc Âm, Âm thinh Chấn sát Thủy, khải-thông, Huyền chiếu Hoàng, hữu khắc trược, hữu sanh chơn là Đạo vậy.

Về Đạo-cân Thần-Hồn gọi: Thần quang khai huệ, (Ngọc Minh Cân) màu đỏ, thêu gắn 12 chữ đen, chữ Nho: PHỤNG THỪA NGỌC SẮC THẦN ĐĂNG HUỆ LỊNH CHÁNH PHÁP KHAI MINH, nghĩa là: thọ Thần-Hồn phụng thừa Ngọc-Sắc, phải mở khai khuôn mẫu tắc qui; Thần minh đăng tịch huệ kỳ, thừa vưng Thiên-lịnh duy trì tế nhơn. Chánh tâm pháp luật vờn vờn, đây là Chiếu-Đức lập công Hồng-hoàng, gọi rằng Đăng-tích Quân-cang, điền Ly chiết Khảm minh toàn khai cơ.

Về Vô-Vi Đạo-cân 6 màu: đỏ, vàng, xanh báu Thái-Cực-Đồ; đen, trắng, tím thần Vô-Vi-Cảnh.

Khăn đồng chữ Nhứt 12 lớp là: Gồm Cửu-chuyển Tam-quang nhứt trí, hòa Tam-Hồn phách giác Thần Linh.

Bố-tử hình tròn 21 phân, chữ 18 phân, vành vẽ 3 vòng lằn đỏ, cách chiếu Kim hào chữ 18 phân đục lủng lòi nét, chữ màu đen (chữ KHAI) là: định-tâm rõ phận mầu Khôn mở, là Tịch-Huỳnh rạng rỡ Thánh-Tâm. Đây là Minh-đức cao thâm, Tân-dân thuần mỹ bền cầm nguyên do. Hậu-Thiên hành Thủy uyên âm, đó là sắc hắc Thỉ Tông hóa hồng, phân ba Xích khí Huyền-công, chiếu hào kim trữ trắng trong thông truyền.

Về Anh-Hồn, Kiêm-quang Huệ-trí, (Ngọc Giác Cân) là: khăn màu trắng đội hành-lễ Tiểu, Đại-phục, thêu gắn 12 chữ Nho màu xanh là: PHỤNG THỪA NGỌC SẮC TINH ANH THÔNG LỊNH CHÁNH PHÁP HUỆ CHƠN. Nghĩa là: Vưng Thiên-mạng thọ môn sắc chiếu, bảo tồn linh huệ khiếu phàm gian. Anh-Hồn Nguơn-Thỉ thanh quang, hành Kim hóa Thủy thông (Càn Khôn) tế linh. Thừa Thiên-lịnh chơn minh chánh-pháp, tồn phách quang Quân thọ ngọc châu. Ngăn ngừa tục trược vưng hầu hộ linh. Thần tri giác mạng trọn tin thiệt thường.

Về Vô-Vi Đạo-cân, đội hành Đơn, Thường Lễ, khăn 6 màu đỏ, vàng, xanh, đen, trắng, tím. Tam-Hồn thanh Tam-thể mẫu khuôn. Khăn đồng 12 lớp chữ Nhứt.

Về Bố-tử lý gọi: tự tâm thức Đạo. Bố-tử 21 phân hình tròn, chữ 18 phân chữ HUỆ, đục lủng lòi nét, chữ xanh, vành vẽ 3 lằn thiểu phân, vòng theo vành, màu đỏ chiếu kim hào, gọi thanh tâm huệ phát minh khai, Tam-Hoàng tri xích rạng ngài, ẩn kim hào, chiếu thanh tín tự Huệ-tinh ư nhứt là đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn nơi Tòa-Thánh, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Ban truyền Bố-Cáo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (2 giờ chiều.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC trắng thêm trong chánh pháp thường
HOÀNG-đồ củng cố nghĩa hòa thương
ĐẠI-đồng huynh đệ nhìn Trời Chủ
ĐẾ-Khuyết vun bồi Thống-nhứt phương.

NGỌC, con vưng nghe Thầy dạy đây, rồi ban truyền Bố-Cáo cho Đạo đặng biết thừa hành rạng rỡ lý mầu đó trẻ.

Về khuôn mẫu phẩm nghi nơi mỗi Thánh-Thất:

1.- là: Hội-Trưởng là gồm chung Lý Thể thừa Thiên-lịnh, vưng Thiên-mạng của Hội-Thánh lo tu tạo, sắp đặt mẫu khuôn, giáo dục đoàn em, hạ mình dụng nhơn tế đức. Phải thông hiểu luật pháp Đạo nguyên, lệ thuộc tỏ tường, thân hòa trọng nghĩa. Về thể là xây dựng nền nhơn, khuôn viên vật dụng ninh hòa. Việc làm do căn bổn, chơn truyền vi chủ. Nhìn Cha Trời là lý sáng, đừng thiêng tâm mà phân vân bản ngã, tránh điều kiêu đắc dối giả ồn ào, đoái chốt hậu lương, xá thân phàm, tôn nghiêm Đạo-pháp, Đức nhơn Đạo-lý tu du bất lụy. Giao tiếp trong ngoài, cố kiên danh nghĩa vẹn mầu, dưng hiến công minh bình đẳng.

2.- là về Phó Hội-Trưởng: tá thứ cho Hội-Trưởng. Phải lo chỉnh đoan kỷ-cương của Đạo; dụng Đức trí tân, dụng môn sanh trí phẩm, nghĩa là: khi muốn hành phận, từ vật chất đến tinh thần, trước vưng Thánh-ý cùng Thiên-mạng, sau chung hòa không khí Đạo đồng, tế chẩn oai danh, dụng Đạo làm đầu, do lý làm căn bổn.

3.- là Từ-Hàn: phải dùng gương tiên giác do Trời Tổ Giáo thiện-mỹ Tông truyền, hoằng khai lý diệu. Là nung nấu Sám Kinh, tiền đường thông lời của Trời dạy là lý thiệt, nhắc nhở huynh đệ học hành, siêu phàm tâm tục tánh, thoát khỏi trần lao là chỗ giành tranh xô lấn, hòa chung khí tượng thăng bường; nhắc nhở thúc kềm, tầm phương pháp phùng nhơn giác thiện.

4.- là Phó Từ-Hàn: phải lo Phổ-độ, chẩn tế, gọi ngoại giao. Tâm Tánh Phật Tiên, Ý Thân Thánh, Thần, Hiền dụ. Đem Đạo-đức tế cấp cô quả thiểu, nguy; đem Lý-chơn thuần-mỹ phổ truyền roi hậu. Thọ lễ duy tân, dụng nghĩa thâu dân, độ nhơn Minh-đức đó.

5.- là Thủ-Bổn: phận Thủ-Bổn giữ gìn Thánh-vật cùng Thánh-sản của nền nhơn, phải minh quang sáng suốt đó; nhìn Trời là Chủ, thọ phận trí dụ thành công; nhìn Đạo-đồng là liên-hoa đằng thể. Trí Bình thông lý thuận hòa làm gốc, Lễ-độ làm đề, Hạnh Khiêm là bổn, Từ Nhượng là căn cơ đó.

6.- là Phó Thủ-Bổn: phải hộ lý tương giao thể hành hiệp lý chí công, Lai-quang Hiến-nhiệm, rạng rỡ minh trưng Đạo-đức.

7.- là Thơ-Ký: gọi Thơ-văn ký-dụ, công trí văn từ, dải dầu lập đức, văn chương lễ độ, phòng trụ thông lưu.

8.- là Phó Thơ-Ký: phải tá thứ văn-phòng, tương giao lương hiệp, liên tiếp y phận Thơ-Ký.

9.- là Thông-Công Quản-Viện.

10.- là Thông-Công Lương-Viện.

Thể gồm trước cùng sau; trong hay ngoài đều thông tri vật thể, lý dụng tỏ tường, sắp đặt thâu xếp châu toàn; dụng thể hành vi, động tịnh. Thông-Công Quản-Viện, nung trang công-quả, phải đem lời Đạo-đức giác tha, tri kỷ đức hạnh, lương hòa ôn hiệp đó. Thông-Công Lương-Viện là: công đức thừa lai, hay hiến tế, phải cho Bác-ái, phải dùng Lý-chơn củ-qui Đạo-đồng, an thuận xuân cảnh dịu dàng là Đạo đó.

* Về Nữ-phái:

1.- là Thông-Quan Tri-Viện: nội vụ tường tri, ngoại giao quảng kiến, tế cấp thuận kỳ, lai thu cố trứ.

2.- là Thông-Lương Tri-Viện: phận sự thông minh, lương vật công trực, tri-trí thạnh danh, viện thự đại-hùng, công tâm trỗi lý, dụng Đạo đầu đề, Minh-đức chung thỉ, biện phân rạng rỡ. Phải thừa Thiên-mạng Hội-Thánh kỉnh tuân; thọ Thiên-lịnh diệu hành chơn-pháp.

3.- là Thông-Lý Nhơn-Viện: phải vưng Thiên-Lý thúc kềm tỷ muội, đem Lý Trời giác hối học hành; đoán phân minh bạch cần thanh, vượt trần thoát tục nêu danh nữ tài.

4.- là Giao-Tế Lương-Viện: phận Giao tế hậu nhơn cố gắng, đủ oai danh đem trắng hòa trung; Tế lương bần tiện cô cùng, giao thân hòa lý tao phùng mẫu-khuôn. Ra hướng Đạo tròn vuông công đức, trỗi tinh thần thậm cực công tâm; muốn cho đời dứt quả mầm, chỉ đường lập đức mầu thâm thọ thiền.

5.- là Hộ-Tri Dụng-Viện: phận tế hộ chẩn nguy trợ khuẩn, dùng đức nhơn căn bổn ban truyền; thông tri Đạo dụng tạo nguyên, ngưỡng tin Chơn-Lý pháp Thiên háo hòa; phải giáo dục Trung-dung tha cập, gồm chung bầu thân thấp lý cao.

Về Đàn, Lễ nơi Thánh-Thất: phận chứng Đàn, Đại-lễ mặc Đại-phục, đồng chung Ban-Cai-Quản Nam-phái, vào chánh giềng hành-lễ. Về Đạo Lễ-phục Thường, Tiểu, Đại-phục; tùy theo Đàn, Lễ hay Thường-nhựt mà hành. Thời Tý Hội-Trưởng chứng Đàn, nếu nơi Thánh-Thất nào có Thiên-Lý, Thiên-Thể thì Bàn-Cai-Quản nhường chánh giềng. Còn Hội-Trưởng hay Bàn-Cai-Quản, trước vào lạy Thầy đứng hầu Đàn, đến cuối bài Tây-Vương vào đãnh-lễ rồi ra luôn, hay vào tùy theo Đàn, Lễ có đọc Thánh-Giáo sau Đàn hay là không. Nơi Thánh-Thất phải có Lễ-Viện, cùng Phó Lễ-Viện, đặng chỉnh đoan lễ tôn nghiêm trí; Nam-phái, Nữ-ban phải có. Phải sắp Trưởng Giáo-Nhi Nam cùng Nữ, Trưởng cùng Phó, lưỡng ban Nam Nữ. Phần Lễ-Viện phải kềm thúc, giáo dục, tin thường. Phải sắp Ban Hộ-Đàn trật tự Công-phu, thay cho tiếng Trị-Đàn, vì không phải Tòa-Thánh, nên Ban nầy là chức việc. Về phận hành Đạo: gìn giữ Thiên-Lý, vi chủ, Thiên-mạng trí chơn. Phải chuyển giao lý dụng, công đức, công nghiệp, thể, vật, cấp tế vun bồi Hội-Thánh, hoặc Đồng-Nhi cấp đến Tòa-Thánh, hiến hành theo Thiên-Lý, Đạo-Luật là 2 năm. Không thì phải chuyển giao thừa hành cho rạng rỡ.

Về Nam-phái: Thông-Công Quản-Viện là quản sự giao thông, tròn chung đồng khán, trọn lương tùng thể. Về Nữ-phái: Thông-Giao Tế-Nhơn-Viện, phận hành tương giao Đạo-đồng, thông tri Đạo dụng, diệu hành lý dụ. Về lý: do Trời vi chủ; về thể: chơn thành trụ, Hội-Thánh phụng triều. Đây là qui-củ ngưỡng chiêm, trước sau chung-thỉ vững êm thuận hòa. Về Đồng-Đạo: phải thiết tha học hỏi, học lý Trời đặng cổi tục phàm, về Lễ-trình xuất xử cho kham. Phải tròn nơi Thánh-Thất vẹn tròn dư công bồi đắp Thánh-Tòa mới thêm. Nơi nào ít hẹp thì mỗi ngày chiết một trẻ. Về Cửu-Trùng phẩm nào cũng vẹn thân hành đến Lễ-trình nơi Tòa-Thánh đặng học hỏi Công-phu, giác thể, Công-quả trừ oan khiên, Công-trình thông Thiên-Lý; đặng khi Hội-Thánh có việc thông tri nơi đâu có mỗi trẻ nơi đó thừa hành. Về phẩm Chánh Phối-Sư, Cửu-Trùng-Đài khắp nơi, phải thân hành hiến trình nơi Tòa-Thánh, đặng thừa lịnh Hội-Thánh vận chuyển, diệu hành mới rạng rỡ đó.

Vậy từ đây mỗi con cố tâm kiên lý, thừa Thiên-lịnh diệu hành cho tròn sứ dụ đó trẻ.

THI

NGỌC con truyền Bố-Cáo đồng tri
Rõ Lý Trời trao vẹn nhiệm kỳ
Chớ có lả lơi e phải vuột
Cố tâm nhắc nhở tránh phàm phi.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đây đặng trong đây mỗi trẻ nghe chung. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, các Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng phân chung qui phận sự đây mà học lý rõ minh Đạo-Thể

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (4 giờ khuya)

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng.

THI

NỮ-sĩ hiện nay tiếng sáng bừng
OA danh rực rỡ Đạo-đồng hưng
KIÊM-chi Ngọc-diệp Rồng Tiên ứng
MẪU Tử đề huề dạ hiến dưng.

NGÂM RẰNG

Giáng-Đàn nhìn trẻ chung trường
Dưng thề tu học nghĩa-phương Nữ tài
Trâm-anh nhu sĩ xinh thay!
Đứng lên hướng Đạo từ nay huy hoàng.

Kiêm-Mẫu mừng chung lớp học, đồng mỗi trẻ vưng nghe lời Mẹ dạy, giảng phân chung qui phận sự đây mà học lý rõ minh Đạo-Thể thừa hành đó trẻ.

Chung phận Nữ-phái thọ Thiên-ân từ Lễ-Sanh trưởng lên đến Đầu-Sư khuôn Mão đồng một chung qui, bề cao 18 phân, Cung nào màu đó, hình tròn cấn lằn bát giác, gồm chót bầu Nhu-quan gọi: Đào-Nhu Túy-Quan. Trên chót có Liên-hoa nghĩa là: Số Nhị-cửu khải cung mở khiếu, thể Liên-hoa Bí-yếu hóa thân. Bầu nhu tùy ý tin cần, cần tri bát giác huờn tân chuyển tuần. Mỗi giác có khai khuôn lệ, hình liễu tấn hóa; nhìn nữ-lệ thọ thân Bồ lập, trí liễu Dương khai khiếu Nghê-ưng; đó là mở cửa Chín-từng, thể hành diệu dụng cảnh xuân Đạo-mầu.

Về Điệp-Kiên để hành Đại-phục của Đại-Đàn Lễ bái triều Thiên-lý, Lễ-Sanh 2 lớp; Giáo-Hữu 3 lớp; Giáo-Sư 4 lớp; Phối-Sư 5 lớp; Chánh-Phối-Sư 6 lớp; Viện-Trưởng 7 lớp; Đầu-Sư 8 lớp, gọi số hai trưởng tri phẩm cấp, lần trưởng lần từng cấp từng tăng; Đầu-Sư tám lớp gọi rằng, bao quanh Bát-Bửu rõ rành Điệp-quang. Mỗi chi Điệp hình ngang 9 phân, dài 12 phân, màu hường nghê, viền 1 lằn chung quanh chi Điệp 1 phân màu cung phận.

Về Nữ-phái Kiên-quang xuê rạng, Đạo tướng thanh tú trí ngọc châu; Gọi rằng sáng suốt làu làu, cổ tường tín dụ võ nghê tao tường.

Về Lễ-Sanh, Điệp-Kiên tiền 14, hậu 14 chi điệp, chung là 28, từng trên 5 chi, kề đó 9 chi. Dầu chung qui Nữ-phái cấp nào Chức-sắc, từng trên phải 5 chi, trưởng lên một cấp thêm một lớp, chín chi gọi là lá, tiền hậu chung qui là 18 lá mỗi cấp. Giáo-Hữu 3 lớp 46 chi gọi: Thọ chữ Giáo vẹn Mười Cương-Kỷ, gìn Hậu Tiền tri-trí phân minh, Hai-mươi-ba phận Tiền in hậu thường. Gọi rằng vị trí tri phương, Năm-hằng Năm-vụ mỹ-thuần thiện-qui. Giáo-Sư 4 lớp 64 chi là: phận Nhi-nữ từng chơn Cửu-khí, thông Hậu Tiền kinh dĩ lòng nhơn; Đó là trí vụ cao-sơn, chữ Sư tròn thập nghĩa nhơn rặt ròng. Tiền Ba-mươi-hai Hậu ứng thành công, Tiền khai trí vụ Hậu ròng Thường Tin. Phối-Sư 5 lớp 82 chi, gồm Tiền Hậu cũng là thập lý, trước cùng sau Nữ-sĩ một niềm. Chánh-Phối-Sư 6 lớp, Tiền Hậu 100 chi; số mười rạng rỡ châu toàn, đây là cấp phẩm hiệp Càn thông Khôn. Viện-Trưởng 7 lớp 118 chi; khai Cửu-khiếu Cửu-Cung ứng chực, Cửu-Viện tròn thâu chọn giao thông; Hậu Tiền đốn tiệm qui đồng, gọi rằng Cửu-Viện hanh thông tương hòa. Đầu-Sư 8 lớp 136 chi, điệp: thông Bát-Bửu Nữ lưu chung-thỉ, Tam-thập-lục Thiên-Lý Càn cang; đó là cơ vận vẹn toàn, thanh thanh đôi lẽ vén màn trần ai; đó chung con trẻ.

THI

Nữ-lưu phận gái trọn kiền-thiền
Thể, Tướng diệu-hành gắng cố kiên
Đức hạnh dồi dào thân thể ngọc
Khiêm cung Lễ Nhượng phận Ngà Uyên.

Chào Nam-Công, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp đặng trong đó nghe chung xét lý hành phận, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Dụng Đạo-Thể của Thanh-Bộ Từ-Hàng Tiên ban Cô minh

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng.

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thân trong trắng gọi thông lương
LIÊN hiệp đoàn viên phải bước bươn
TIÊN tục tại đây nầy xuất xử
NỮ lưu em hỡi tránh Sâm Sương.

NGÂM

Lai Đàn chào bái Nam-Công
Mừng chung Tỷ Muội khải-thông Đạo Trời
Thượng-Nguơn cơ hội đáo thời
Dày công Nữ-sĩ dựng Đời thuần phong.

Bổn-Cô mừng chào chung lớp học, hữu tâm vì Đạo, đắc nguyện tu lai. Trong giờ học hỏi vừa rồi chung Tỷ Muội định-tâm Bổn-Cô ban truyền lý, Dụng Đạo-Thể của Thanh-Bộ Từ-Hàng Tiên ban Cô minh, Đạo đồng đây xem lý hành phận roi dấu chơn truyền đó chung em hỡi.

Hồ-Thị-HAI Hiền-muội, Quang-Âm khai huệ, Tín-Đồ Tây-Thiên Vương-Mẫu, định-tâm nghe tỏ. Về Đạo-Cô Tường-Liên-Kiết đủ 5 màu cung, gồm 5 cung trải dài là 25 phân, hình Tường bề xuôi 5 phân là: Cửa Từ-Hàng hoằng khai lý diệu, dụng Từ-bi bí yếu giáo truyền, Năm-cung chói rạng Bổn-nguyên, gọi thông Ngũ-giáo giác viên thể hành. Số hai, năm cộng chung là bảy, dẹp Thất-tình định lại Chơn-như. Hình xuôi năm phân là: phải xuôi thuận Năm-hằng trác ngọc, phận nữ thanh lừa lọc thoát trần; liên-đằng Ngũ-sắc tường vân, gom về nhứt điểm ân cần tượng trưng. Sợi dây buộc gọi: Phược-Thằng-Cô, dư hai mối, mỗi bên 3 tấc, hình ngang 3 phân là: dùng Đạo Phược Thằng Cô Thần-luật, định buộc ràng trí cực phép khuôn, dứt xong Tam-độc tròn vuông, Tam-thông ứng vận mẫu khuôn Tam-tài. Áo đóng 10 nút màu trắng hình vuông 3 phân. Áo Khai-Dương là: Tam-tùng vẹn Tam-tài thanh nữ, vẹn mười phân xuất xử mỹ từ; gọi rằng Ngũ-đạt Ngũ-như, Đạo-Cô ứng vận Minh-sư cứu đời. Thêm phận thẻ gắn nơi tay mặt, là chánh qui vặc vặc lương thuần; Đây là dấu điểm Phật Tông, Hộ trì Tiên-Nữ Phù Không-Dương tường. Trên bâu áo đóng 1 nút hình tròn 1 phân màu đỏ gọi chỗ Điểm Đích Xích-Quang Nhứt-Cực, là phương châm tri thức nữ hiền; phát minh truyền diệu trung nguyên, tượng trưng khí sáng tôn nghiêm tâm toàn. Thẻ áo Thường, Tiểu, Đại-phục dài 54 phân gồm 5 cung, mỗi cung 2 lớp, trên Bích, 2 Quỳnh, 2 Diêu, 2 Liên, 2 Quế. Gọi về Thanh-Bộ Phật Tiên, Thánh-Lý là Triết-Hiền Nữ-sĩ anh tài. Năm cung gồm lại là đây, Từ-bi, Bác-ái hiện nay Công-bình; Trung-dung, Cảm-ứng, Anh-minh; mẫu khuôn trật tự giữ gìn ngoài trong. Phải mang 4 chữ Thiên-danh, Từ-Hàng Lễ Độ, ngăn ngừa Thất-Tình. Tường bày Thanh-Bộ, mang theo Đạo-y Đơn-phục; đổi cho chữ phẩm Cửu-Trùng. Về phẩm Cửu-Trùng của Đạo-Cô, có gắn theo Lúp Đơn-phục tường bày là đủ. Dầu Đồng-Nhi, Đạo-đồng phải kiền-thiền chữ Thiên-danh, Thanh-Bộ theo Đạo-y Đơn-phục cho vẹn danh tài Lễ Pháp độ thân đó chung em hỡi.

THI

Đạo-đức hóa hoằng hỡi Chúng-sanh
Cô quang lâm hạ lập thời thanh
Giáng lâm truyền bá lời Chơn-pháp
Thế giái qui hồi thọ mối manh.

Tiểu-Tiên khép mình chào Nam-Công Hỏa-Đức; bài nầy Thiên-Chơn đọc sau giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo Lễ-phục Chưởng-Quản

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC thạch phân minh rạng rỡ thay
HOÀNG-đồ độ dẫn trẻ hiền tài
ĐẠI-đồng phán đoán đây lành dữ
ĐẾ Chủ muôn Linh hiệp chánh ngày.

NGÂM rằng:

Bạch-Ngọc Thầy ly giáng cõi trần
Loan xa ngự hạ hóa tường vân
Thượng-Nguơn khai dựng nơi Nam-Thiệm
Chỉnh-thống Qui-nguyên Giáo-lý dâng.

Thầy mừng BIỆN, con định-tâm vưng nghe Thầy dạy: về Đạo Lễ-phục Chưởng-Quản đây, chung con trẻ học lý diệu hành cho trọn tròn bổn phận tuần cơ diệu dụng đó trẻ chung con.

Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài kỳ Dương, Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài kỳ Âm, gọi rằng: chốt then cửa Đạo Trời là đó, muốn cho cõi trần ai tròn an chung sống thì khí tượng chí hầu, là Âm Dương giao tế đặng hóa sanh Lý Thể, Dương tế Âm, Âm giao Dương, gọi Âm Dương hiệp nhứt; lý Dương hiệp, Âm hòa, Càn Khôn hoát khởi, sanh sanh thanh khí, hóa hóa thể thanh, năng hoằng quang linh, Cao Kiên hữu dụng gồm chung Đạo-Thành Đức trưởng là đó. Đạo-lễ Thường, Tiểu, Đại-phục Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài, viền 1 lằn đỏ ngoài tay áo 3 phân, 9 lằn sau gọi trong 1 phân màu đen, là về Chưởng-Quản Tam-thừa Cửu-Chuyển, dựng Đạo Trời phát triển Cửu Dương; đây là cơ vận nghĩa phương, màu đen ký trọn tế nguyên âm thành. 1 lằn 3 phân màu đỏ, ngoài gọi trước, lý chủ định kỳ Dương Tam-phẩm, khai cửa Trời Cửu-cấp Càn-cang; Kỳ Dương màu đỏ tâm an, Tam-tài, Tam-khí Huyền-hoàng Tam-lương. Trên bâu áo đóng 1 nút màu đen, ký tế với Chưởng-Quản Cửu-Trùng, hình tròn 1 phân đây là: trong số một trọn tròn tâm lý, vẹn in lòng nhứt ký nhứt giao; gọi rằng cơ hội tương giao, rõ thông lý diệu phùng tao nhiệm kỳ. Áo Khai-Dương đóng 9 nút màu đỏ hình tròn 3 phân là: trong số cửu gồm thâu tám hướng, về trung qui hình tượng kỷ cang; không trung vén sạch các màn, Nam môn chánh Ngọ châu tàng tế nhơn. Thẻ áo Chưởng-Quản 12 tấc, hình dài, hình xuôi trên là trước, dưới là sau có dạy rồi, sắp 18 lớp màu đỏ, gọi số Nhị-cửu Nhì-nghi thông trí, chấp vãng hành y ỷ kỳ Thiên; đây là hoằng hóa vô biên, rõ thông mối nhíp Bổn-nguyên chỗ nầy. Áo Đơn-phục, Thường-hành Đạo-phục không có viền. Về Chưởng-Quản Cửu-Trùng, áo Thường, Tiểu, Đại-phục, viền 1 lằn 3 phân màu đen, 9 lằn đỏ 1 phân sau gọi trong, đó là ký tế Chưởng-Quản Hiệp-Thiên, lý gọi về Chưởng-Quản Cửu-Trùng âm vật, gọi đức nhơn tồn thất tường qui; đây là nền đức duy trì, Âm Dương Đạo-đức duy trì tế linh. Trên bâu áo đóng 1 nút màu đỏ hình tròn 1 phân, đó là ký tế Âm Dương, đóng nơi sau gọi dưới 9 nút màu đen hình tròn 3 phân lý gọi: hiệp hòa lưỡng pháp chốt then Đạo Pháp đó. Áo cũng Khai-Dương y khuôn mẫu chung qui, gọi hai Chưởng-Quản Âm Dương ký tế, đây chung qui nhị thể nhứt tinh; đây là cơ hội trí minh, thọ Thiên thừa mạng bình linh lịnh truyền. Bố-tử hình tròn 18 phân, chữ 12 phân, chữ LỊNH màu tím, vành màu trắng, đục lủng lòi nét đó là: Thừa mạng ban lịnh, Chưởng-Quản đồng qui khuôn mẫu. Xiêm viền xanh. Ca-sa màu vàng lót trắng, viền lằn hình kim qui lằn xanh; Mão màu vàng. Trôn áo viền 1 lằn đen. Đó là đỏ, vàng, xanh, đen, trắng, tím đồng qui lý dụ, Vô-Vi tròn qui củ hốt-chiêm. Chữ mang màu đỏ, Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài chữ VÔ, Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài chữ VI, lý gọi: Vô Hành-pháp khải-thông Thiên-Lý, vưng lịnh Trời tri-trí hoằng thông. Vi là Đạo dụng Đức đồng, gọi rằng Đức hóa không không thừa hành. Áo Đại Lễ-phục, viền trôn 3 phân màu đen, áo mở trôn hậu trưởng lên 3 tấc đó là: hoằng khai Tứ-đức phủ che, dĩ Chơn tế Pháp lý minh đức rèn. Đỏ, vàng, xanh vưng nghe Tam-Giáo; trắng, tím, đen châu đáo Thiên-cơ. Gồm chung Tam-lý phụng thờ, Tam-lương hậu khí mở cơ thông truyền. Trôn áo đó huờn nguyên Bắc-trục, viền màu đen kềm thúc Lương Thần, gọi rằng khai mở Thiên-ân, chung qui sanh hóa hảo cần đây con.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Trung-Thiên Thánh-Cuộc, Thiên-Quốc Tam-Hoàng, Đạo qui Ngũ-Giáo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 10 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ chiều.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành mài luyện mới thành danh
HOÀNG-lịnh Thầy thâu trẻ trọn lành
ĐẠI-Đạo Qui-nguyên hoàn Bổn-nhứt
ĐẾ quyền Trời Chủ đắc tồn thanh.

NGỌC, con định-tâm vưng nghe Thầy ban dạy về Trung-Thiên Thánh-Cuộc, Thiên-Quốc Tam-Hoàng, Đạo qui Ngũ-Giáo. Vậy con định-tâm vưng nghe Thầy ban dạy đây chung con học lý, rõ Đạo dụng chơn truyền roi hậu Diệu-chơn, Tín-qui, Hành-phận đó đồng đây. Vậy chung nhau lo lập một cảnh gọi danh: Nam-Thiệm Bộ-Châu Thanh-Điện, ngang Bửu-Thơ, về phần Dương-Chấn, để cho Toàn-Ban La-Hán ngự, đặng hành Đạo hộ trì Thiên-Chơn Cửu-Tý, là Nguơn-Khí. Lập một cảnh Bắc-Cù Lư-Châu Phước-Cung, đặng Thanh-Bộ Từ-Hàng Đạo-Cô ngự, định hành Thiên-Lý, lập ngang Bửu-Thơ, về hướng Tây Đoài. Hai cảnh Cung Điện nầy lập hình vuông 15 thước, hình cao 18 thước, 3 từng, 1 trệt, 2 lầu. Trong 4 cảnh nầy hộ trì Bửu-Tòa Điện-Ngọc, Châu-Thiên Cửu-Bích, gọi Năm-châu qui hiệp là đây. Cảnh 1 là Nam-Thiệm Bộ-Châu Thanh-Điện; cảnh 2 là Bắc-Cù Lư-Châu Phước-Cung; cảnh 3 là Đông-Thắng Thần-Châu Thanh-Điện; cảnh 4 là Tây-Ngưu Hạ-Châu Phước-Cung, đồng hướng mặt vào Trung-Khí, là Hoàng-Yên Bửu-Châu Tòa-Điện, gọi Bạch-Ngọc Cung-Kinh đó trẻ. Vẹn tròn đây là lý diệu Trời ban Thiên-Quốc, Tam-Hoàng, Nhơn-Hội, Thiên-Thời, tường bày Địa-Lợi, Trung-Huỳnh, Nhơn-Hòa Tri-Giác Mỹ-lương Thuần-hậu. Đây là Phật, Tiên, Thánh, Thần, Hiền ngõ hộ trì loan-xa Cửu-Bích Tiêu-Cực, tinh duy Huyền-Quang Bí-Khuyết, khải Huyền Thiên-Chơn trạm tịch là đây, chung con hỡi trẻ. Bốn cảnh nầy kiểu cách y nhau, lầu hiên qui củ, đồng thanh Đạo dụng cho vẹn cảnh.

MƯU, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền, đặng trong đó nghe chung rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Nữ-Phước-Thần

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (5 giờ sáng)

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-Sĩ phát minh tế cấp trần
OA thùy thúy nhụy bửu tương thân
KIÊM thuần mỹ tục phong hoàng chiếu
MẪU lệ gia ban luật pháp cần.

Kiêm-Mẫu mừng chung lớp học vẹn lòng, ứng chầu Thiên-hội, thọ mạng tuân y. Vậy Kiêm-Mẫu đây lời lý thanh ban tỏ, con trẻ vẹn tường quang; đó chung con trọn.

Về Đạo-phục Nữ-Phước-Thần, gọi Thiên-Thần; đầu đội Lúp tùy theo cấp Cửu-Trùng, màu hường là Thường, Tiểu, Đại-phục; trên choàng Tràng-hoa màu xanh biếc; hình Tràng-hoa bề lớn 5 phân, choàng phủ ra sau, dây Tràng-hoa thòng xuống 9 tấc, thể như Lạc-Thần-Phong Mạo vậy; phía tiền Tràng-trinh gắn 9 hoa cúc, nên gọi Tràng-hoa đủ 9 màu là: Biếc màu, Huỳnh, Diêu, Liên, Quế, Ngân, Nghê, Lục, Thạch; gọi rằng: Chín-cung lâm hạ cứu đời, Thiên-Thần hộ mạng giúp Trời cứu nguy; Tràng công đức cả nhiệm kỳ, Hoa đơm cúc nở tinh duy Nữ-tài.

Về Áo Thường-phục, Tiểu-phục, Đại-phục tay rộng 5 tấc, 7 tấc hay 3 tấc, y khuôn mẫu Chức-sắc Cửu-Trùng hay Đồng-Nhi, nhưng áo nguyên sắc màu xanh biếc, áo Khai-Dương đóng 18 nút màu đỏ, hình vuông 1 phân, trên bâu đóng một nút hình tròn màu đỏ 1 phân; trong nách áo có gắn Vân-phách 9 màu thể như Hoa của Tràng-Khôi vậy; phách nầy lớn 45 phân, dài 63 phân, hình xéo vót sắp màu lấy thân làm chủ là trước, phách màu biếc là trước; về Hoa-Tràng cũng lấy Hoa cúc biếc bên mặt là trước, trước Tâm-tử có tạo một hoa lài màu tím, hoa nầy hình tròn 18 phân, trong hoa ấy dư ra hai mối dây, hình ngang 10 phân, choàng đến vai cùng nách áo, ràng mối phía hậu lưng, khuôn trán công. Về Nữ-Phước-Thần phải vẹn thanh phận phước vụ Thần quang đó trẻ, gọi Liên-Hoa vui vẻ ràng thân; Lúp có gắn hai chữ thể phẩm Cửu-Trùng đó, có buộc dây Toàn-Kích Ngũ-Cung y phận, dây nầy bề lớn 10 phân, bề dài tùy theo thân trẻ, buộc ngang thể dây lưng gọi ngăn biệt Âm Dương ứng dụng, cho rõ ràng cung phụng diệu hành; áo để luôn không mở đinh trôn. Về áo Đơn-phục màu trắng, kiểu mẫu in vậy, nút đồng y, gắn chữ Thiên-danh Phước-Thần, gắn ngang tiền tâm, 5 chữ chia 2 hàng, chữ toàn màu đỏ, hình chữ 7 phân; Lúp Đơn-phục màu trắng viền 5 Cung y mẫu, dài tùy cấp Cửu-Trùng, không kết Hoa tràng, có đeo chữ theo cấp Cửu-Trùng. Về Đồng-Nhi hay Đạo-Hữu thì không mang chữ, Lúp trắng; về áo Thường-hành Đạo-phục kiểu cách đồng y, Lúp đội màu trắng có Tràng-hoa, cùng mang chữ cấp bực Cửu-Trùng hoặc không tùy cấp. Về hành-lễ: Thường, Tiểu, Đại-lễ; mặc Thường, Tiểu, Đại-phục có mang Tùng hình ngang 9 tấc màu vàng, Thường-phục áo tay 5 tấc; hành Thường-lễ không mang Hoa-lài, không buộc dây Toàn-kích; Tiểu-phục hành Tiểu-lễ buộc dây Toàn-kích, không mang Tâm-tự Hoa-lài; Đại-phục hành Đại-lễ mặc toàn qui Đại-phục. Hành-lễ Nhà-tư hay đãnh-lễ mặc Đơn-phục gọi Tiên-lễ đơn chiếu.

Vậy mỗi trẻ vui an thanh trí bình tâm đặng vưng dạ vẹn lòng, rõ không mà có đó trẻ thơ.

Về bổn phận phẩm sự diệu hành nơi Tòa-Thánh hay Thánh-Thất cách hành y như Đạo-Cô vậy; nơi Nhà-tư in thể Từ-Hàn; thêm phận là hầu đứng đến hai Châu-Thiên, Cửu-Trùng, trí dụ tịnh Đàn trật phẩm cho lễ trọng, cùng hộ trì Thiên-Thể, Cửu-Cung, Hướng-viện lý gọi thọ Thiên-Lý lịnh hành cơ Lý, trí thể vụ, đi vào Tòa-Thánh cố ghi Thần tri Hoàng chiếu là lễ độ đó.

THI

Phước-Thần giáng thế hộ Thiên-Chơn
Lâm hạ tế Linh dựng Thượng-Nguơn
Vưng lịnh Cha Trời thừa mạng Tý
Bớ chung nghe kỹ khỏi khua sờn.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp hiện ngày 6 tháng 10 Mậu-Tuất đây, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng phân Đạo-Thể của Phước-Thần

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng.

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ Lý hòa Tinh Tín hiệp lương
LIÊN-Tòa thuần quảng cuộc Trung-Ương
TIÊN ban Phật vị chung Hiền, Thánh
NỮ bộ luật điều pháp diệu khương.

Bổn-Cô chào chung lớp học Thanh-Bộ mỗi ban đồng Thiên-ân phận sự, giờ mãn lớp học Bổn-Cô giảng phân Đạo-Thể của Phước-Thần đây cho vẹn mầu qui củ roi truyền; vậy chung nhau mỗi em định-tâm vưng nghe trọn lý.

Về Thiên-Thần Nữ-Phước, Lúp Thường, Tiểu, Đại-phục màu hường lý gọi Bồng-danh Thiên-Đạo Thần húy kỉnh tuân, mỗi nhựt thủ triều Thần-quang, chiếu lễ đó Tràng-hoa lý gọi: Tràng màu xanh gương lành thể Ngọc biếc không phai chẳng lợt, Kim-thủ Cô-đơn gọi Kim-cô tinh ứng của Tràng, cao lên 9 phân hình Kim-chuyền gắn Kim-tuyến, 5 lằn hình tam giác, lý gọi Tràng-trinh, hình lớn của Tràng 5 phân, hình cao của Tràng 5 phân, hình Trinh của Tràng 9 phân, hoàn Chiếu của Tràng cách trong 15 phân, lý gọi Trung-thủ Trinh-tràng tế lương thuần đó. Phần Nữ-Phước Thần-quang chiếu dụ, nêu gương lành qui củ rạng trinh; Đạo-mầu kết quả thành thanh, Thiên-Thần Trời sắm mối-manh chầu Trời; Dây Thông-Thần Câu-phược dài 9 tấc, hình ngang 5 phân gọi: Hoàng cố hậu cửu chơn trí dụ, do Năm-hằng thành tựu hậu lai; Ba phân Tràng rọi Tam-tài, mười lăm hàm khiếu vẹn tài ứng trung; Số 15 Cửu-cung khai khiếu, khải Lục-thông Bồ-liễu Tịch-huỳnh; Đó là Đạo-pháp chánh minh, chung nhau mỗi trẻ giữ gìn Tám-phân; Chín hoa cúc tuần tuần ứng chiếu, hình tròn là nên hiệu Tam-Hoàng; Cúc hoa đua nở vén màn, bốn phân chín lớp trang hoàng đóa khôi; Gọi rằng Tứ-đức hẳn hòi, hoa đơm nhụy thúy vẻ vui thới là; Nữ sanh Chín bực Liên-Tòa, Tây-Đoài đắc vụ con Ta rạng hồng; Áo màu xanh rặt ròng Ngọc bích, giáng cõi trần khuyến khích Tinh-anh; Hai dương dạy trước đã rành, kiên mười tám điểm nút đỏ xanh tế hòa; Số mười tám đồng là Bát-Bộ, câu thập tròn hối ngộ cần liêm; Hình vuông Tứ-đức thuận khuôn, nhứt phân ức vạn tỉnh tuồng là tu; Trên bâu nhứt điểm đỏ màu, hình tròn trọn phận làu làu nhứt qui; Nên tâm chẳng lợt vô phi, đó là màu đỏ Nữ-nhi dặt dè; Hai Vân-phách màu kheo chín phận, giúp Cửu-cung thiện tận tế nhơn; Thể Thần Thiên-Lý Bồng-vân, Phách thông huyền ứng công tràng hiến cơ; Bề ngang xuôi hòa chung đồng chín, gồm Cửu-tam Thiên-tịch Địa-hoàng; Nhơn-linh luân lý châu tàng, Cửu-Thiên Cửu-khiếu Cửu-cung Cang thành; Gọi phép lạ mối manh hiến thể, truyền lý mầu người dễ nhìn xem; Kim-chuyên Phách-vụ vén rèm, đây là phép luật Thần đem độ điều; Hoa lài Tâm-tử tiêu-thiều, hình tròn mười tám đóa thiều nhụy đơm; Mười hai lớp thúy thâm, Rỡ ràng thần huệ tâm toàn hậu qui; Tím tâm yểm tự đề huề, Mười phân trán hậu kiêng dè luật công; Đây Toàn-kích năm màu năm cõi, gồm Năm-cung ánh vọi huy hoàng; Mười nên mười phải vững an, tốt tươi lành phải vinh vang phẩm lành; Phải gắn chữ Thiên-danh Đơn-phục, cho tỏ tường danh chúc Phước-Thần; Rõ ràng màu đỏ bảy phân, là ngăn Bảy giặc Tân-dân tâm-điền; Phân hai hàng chữ Nho nguyên, phương Nam Việt giác nho truyền lễ nghiêm; Lúp Đơn-phục mối giềng Ngũ-sắc, phân giải rồi sắp đặt nhiệm kỳ; Tùng cho thân Thần-quang huỳnh sắc, gồm chín tròn sắp đặt chín chiều; Gọi rằng chín tấc danh nêu, Nữ trinh đồng phước tiêu-thiều là đây; Chung nhau Thần-Nữ hay hay, Tế-Linh hộ giá thẳng ngay một lòng; Áo không mở trôn đinh vẹn phận, vì phẩm Thần cơ vận tùng lương; Đây là tỏ lý mở đường, Nhìn đây sắp đặt nghĩa-phương luật-điều; Roi truyền kế hậu nhìn theo, Chơn-truyền Thánh-Luật bao nhiêu phải dò.

THI

Phải dò qui củ thể hành y
Đừng để đổi dời phải vướng ly
Một mảy thu hào rằng Thánh-Luật
Bớ em Nữ-sĩ ráng tâm suy.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật chơn truyền kế hậu.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải Đạo-Thể Y-phục, Đạo-triều của Thanh-Thần

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ứng kề đây quí báu mà
HOÀNG-đồ xây dựng bớ con Ta
ĐẠI-đồng pháp luật tường chơn Đạo
ĐẾ Chủ Càn Khôn tế thế đa.

Thầy mừng mỗi con, vậy chung nhau mỗi trẻ định-tâm vưng nghe Thầy ban lời giảng giải Đạo-Thể Y-phục, Đạo-triều của Thanh-Thần gọi Thiên-Thần-Quang đây trẻ. Về Khăn Thường, Tiểu, Đại-phục gọi Ngọc-Cân lễ triều, 8 lớp màu tím chữ Nhơn, trên nóc vẽ Bát-Quái Tiên-Thiên màu đen, áo nguyên sắc màu đỏ thể Ngọc-phái, đóng 18 nút màu xanh hình tròn 1 phân, trên bâu 1 nút hình vuông màu xanh 1 phân, áo Khai-Dương thước tấc y khuôn mẫu, không mở đinh, trôn; tiền tâm mang Quả tâm-tử hình tròn 18 phân màu trắng để liền, Quả tròn 12 phân vẽ màu đỏ hình tinh duy kề hậu y, sắm Tịch-vân-phách hình xéo vót trên 45 hình ngang, dài 65 phân màu Tam-Thanh Tiên-Thiên, sắm Củng phân Tứ-duy, hình ngang 9 tấc, tâm thân cột dây Ngọc-sắc Tam-Thanh Tiên-Thiên Thần, Khí, Tinh; Đạo y Đơn-phục màu trắng, rộng tay 5 tấc hoặc 3 tấc tùy theo Chức-sắc, Đồng-Nhi hay các cấp Thường, Tiểu, Đại-phục cũng ứng theo thể công, đội khăn Tam-Thanh để hành Đơn, Thường-lễ đồng nguyên, 8 lớp chữ Nhơn, áo đóng nút y khuôn mẫu, mang chữ Pháp-danh 5 chữ chia 2 hàng, chữ Nho, chia trên 3 chữ, dưới 2 chữ, mang hình ngang tự tiền tâm, Thường-hành Đạo-phục thể y khuôn-mẫu; Tiền, Hậu nguyên lý màu trắng, khăn đen 8 lớp chữ Nhơn, là trọn tròn bổn phận; về Củng màu xanh, dây Ngọc-sắc hình ngang 12 phân; hình dài 12 tấc. Về cấp phẩm Cửu-Trùng áo Thường, Tiểu, Đại-phục, mỗi cấp viền lằn trắng nơi tay áo thể Cửu-Trùng vậy. Về Ấm-Sanh, Khóa-Sanh, Giám-Sanh viền chỉ vàng nơi tay áo, một cấp viền 1 lằn 1 ly; về Đơn-phục tay áo có gắn hình tam giác, hình ngang 6 phân, dài 12 phân, rồi thêu chỉ vàng, hình Kim-chuyên xanh mỗi phẩm 1 lằn. Còn từ Lễ-Sanh trưởng lên chỉ tím mỗi phẩm 1 lằn 3 ly, gắn phương trôn của tiền tay áo Đơn-phục là vẹn vậy chung mỗi trẻ. Vậy chung mỗi con y hành sau Thầy giảng giải đây chung trẻ.

MƯU, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng nơi Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Lý nghĩa của cơ-quang thể dụng diệu hành Thiên-cơ thể pháp do nguyên

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ chiều.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC là món quí cả trên đời
HOÀNG lịnh Thầy ban trẻ thuận thời
ĐẠI-Đức Đại-ân giàu Bác-ái
ĐẾ quyền Chủ-Tể khắp năm nơi.

Thầy mừng chung mỗi con cố tâm vưng dạ, lời Thầy ban dạy đây cho rõ ràng bổn phận, lần đây Thầy giảng giải cho rõ ràng lý nghĩa của cơ-quang thể dụng diệu hành Thiên-cơ thể pháp do nguyên đây con trẻ.

Về Y-Cân thể Đạo-phục của Đồng-Tử đây cho rõ. Về Đồng-Tử định thừa hành Thiên-Lịnh hộ trì Thiên-Thể do Thiên-mạng nhứt triều đó. Về Đạo Lễ-phục gọi áo Thường, Tiểu, Đại-phục toàn màu trắng, tay rộng 5 tấc, 7 tấc, 3 tấc do tùy cấp phẩm in y tròn khuôn mẫu từ lâu có giảng dạy trước rồi; áo Khai-Dương đóng 18 nút hình tròn 1 phân màu đen, áo không mở đinh trôn; sắm Bố-tử hình tròn 18 phân màu đen, để liền vẽ chữ đỏ 12 phân, chữ NHƠN phía tiền, chữ NGHĨA phía hậu. Mình trắng chữ xanh khuôn mẫu y; tiền chữ LỄ, hậu chữ TRÍ. Mình vàng chữ trắng, tiền chữ TÍN, hậu chữ TRUNG. Mình đỏ chữ vàng, tiền chữ HÒA, hậu chữ THUẬN. Đây phận dụng Ngũ-chơn Tông lý Thánh thanh trí thể, Ngũ-tông tròn Ngũ-sắc, sắm năm sắc Ngọc-Đái là: đỏ, đen, xanh, vàng, tím thay cho trắng; mỗi Tông 200 phận, thể thân diệu dụng do Thầy thâu chọn, sắp định trí tông; hành Thường, Tiểu, Đại-lễ mặc Thường, Tiểu, Đại-phục là vẹn phận; Thường-phục không Bố-tử, không Ngọc-đái, Tệ-đai; Tiểu-lễ mặc Tiểu-phục thọ Tệ-đai, không đeo Bố-tử; Đại-phục chung qui toàn thủ, khăn màu tím gọi Thuần-cân Thánh-lễ 10 lớp chữ Nhứt. Ngũ-Tông chung qui, khăn Tam-Thanh đồng 10 lớp chữ Nhứt, khăn đen Thường-hành Đạo-phục cũng 10 lớp chữ Nhứt, áo Đơn-phục kiểu mẫu đồng y, khăn Tam-Thanh gắn chữ Thánh-danh 7 phân màu đen, gắn tiền tâm chỉ trực, lý hành khuôn mẫu, Thường-hành Đạo-phục y khuôn mẫu chung qui.

Về Tước-phẩm Cửu-Trùng: Ấm-Sanh, Khóa-Sanh, Giám-Sanh viền tay áo một cấp 1 lằn 3 ly, trưởng lên không viền cổ. Từ Lễ-Sanh trưởng lên mỗi một cấp 1 lằn 1 phân; tay áo, cổ áo màu theo phái. Giờ đãnh-lễ, học Đạo, hành-lễ chung qui mỗi phận đồng có mang dây Nhung-Khoa gọi Nhu-Thí-Đạo nơi bàn tay mặt; Nhung nầy 5 màu: đỏ, vàng, trắng, đen, xanh; kết liền liên chỉ, trên 2 tấc, dưới thả rời 6 tấc gồm 8 lớp gọi Bát-Bửu Nhung-Khoa, hình ngang mỗi lá là 8 phân, trên chót 4 phân, có tạo Phược-chuỗi máng trong bàn tay mặt; về Xiêm 8 lá, mỗi lá 35 phân màu đen, trôn viền 1 lằn màu vàng 5 phân đồng mỗi lá, xuôi để trống không viền.

Vậy mỗi con an học lần đây Thầy giảng giải thêm rõ đồng chung trẻ.

THI

Thánh-Nhân xuất thế bớ nầy con
Nho tánh tế lương rõ lý trong
Thánh tuyết Trung-dung ròng Thứ Nghĩa
Hiện đây chung hiệp Ngũ-chi đồng.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Diệu-Lý Tinh-Thần nơi Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải Đạo-Thể của La-Hán

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (4 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc ban gia phước đức đầy
HOÀNG thành luật pháp kể từ đây
ĐẠI-ân Trời xá nơi trần thế
ĐẾ Chủ muôn Linh nắm mối dây.

Thầy mừng con thơ chung mỗi trẻ, đồng con định-tâm vưng nghe học lý Luật-điều Thầy ban tỏ giờ đây. NINH, con nghe Thầy giảng giải Đạo-Thể của La-Hán đây con trẻ.

Về Áo, Xiêm y khuôn mẫu Thầy đã có giảng giải rồi. Áo Khai-Dương là Tiên-Thiên khai lý, mở màn âm tâm chí hóa truyền, mở khai dương pháp thấu nguyên, cội nguồn tỉnh giác mối giềng từ lương; Áo đóng 10 nút hình tròn 3 phân màu trắng là: thừa Thiên-lịnh 10 phân cho vẹn, gọi châu-tàng hựu hản thỉ-chung; trọn tròn nhơn đức nghĩa phùng, Tam-tài nắm chặt chấp trung huyền-hoàng; về màu trắng rõ ràng thanh bạch, gọi hành Kim trong sạch hóa hoằng; Kim là sanh thủy lương năng, dào dồi đức tánh truyền ban Lý Trời. Trên bâu đóng 1 nút 1 phân màu đỏ hình tròn; Chung phân sự qui hồi nhứt mạch, tượng tâm trung rẽ rạch mây mù; Hỏa thường thử thách tu du, khắc Kim hóa Thủy Thủy phù thanh tri. Áo không mở đinh, trôn gọi: Bền trọn phận truyền thông lẽ phải, báo tin lành gieo rải tiếng Trời.

Về La-Hán phận mang thẻ, thừa vưng Thiên-mạng xuôi thời Phật-Tông; khăn 10 lớp chữ Nhơn để hành hóa gọi: Thường-hành Lễ-phục, vẹn nhơn tức thập toàn Lương-mĩ, thủ lễ mầu thành trỉ hườn thanh; Noi gương Phật tánh tâm thành, tiền nhơn hậu đức đạt thành nguyên do. Khăn Đại-phục, Tiểu-phục nguyên màu tùy phái Cửu-Trùng cấp phẩm.

Về chữ Yểm-Tự-Quang sắm 4 chữ Thiên-danh La-Hán màu tùy phái Cửu-Trùng. Con nào thọ phận La-Hán mà chưa có phẩm Cửu-Trùng màu chữ tạo (Huỳnh) là phận; Chữ mang tiền tay mặt gọi: Nam-phái hữu chánh đáo tả chơn; Nữ-phái tả chơn huờn hữu chánh, chơn chánh huờn nhứt trung, tượng trưng công tín, chữ Công-bình, nút hình chánh trực, đây là Tứ-đức thanh từ, Càn Khôn Ly Khảm tiền thư, thỉ-chung tả hữu khư khư Đơn triều.

Kể từ đây con thơ mỗi trẻ Nam Nữ thọ Thiên-sắc hưởng Thiên-ân, Đại-Thiên-phong phải sắm 4 chữ đơn lễ mang hành Đơn-phục, sắm thể như vầy: Nữ-phái, Đầu-Sư chữ Đầu-Sư cung Bích, như Chánh Phối-Sư thể Chánh Phối-Sư Bích, Phối-Sư thể; Phối-Sư cung Bích. Về Nam-phái thể, Quyền Ngọc-Đầu-Sư, về Chánh Phối-Sư thể; Chánh Phối-Sư Ngọc, Giáo-Sư thể; Giáo-Sư phái Ngọc, Nam Nữ Chức-sắc Cửu-Trùng còn Thiên-Phong còn mang 3 chữ như trước, vì còn hành thể Hậu-Thiên, Nam-phái Thiên-Lý, Thiên-Thể thế thay Lý Thể, Hội-Thánh là Tam-Bửu, Tam-Thanh mang chữ Đơn-phục như vầy: thể Ngọc-Bửu Nguơn-Thần, Tam-Thanh thể, Đầu-Sư phái Ngọc; Phó Tam-Bửu mang chữ Đơn-phục, thể; Tá-Ngọc Bửu-Đạo.

Chung con Nam Nữ vẹn chí học lần cơ vận đến đâu Thầy truyền đến đó, Ban luật Thừa luật thanh quang luật, Đạo-pháp đó chung con trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể Giáo-Tập

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 - 6 giờ trưa)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ẩn non côn bớ trẻ là
HOÀNG thành chơn Đạo rất huy nga
ĐẠI ân chiếu giáng nơi trần thế
ĐẾ luật Trời ban trước Thánh-Tòa.

Thầy mừng mỗi con, chung lớp học định lòng vưng nghe lời Thầy ban giáo đây chung con.

THẢO, trẻ định-tâm cố học Thầy ban dạy Đạo-Thể Giáo-Tập đây trẻ thơ.

Về Giáo-Tập, Áo Khai-Dương không mở đinh, trôn; Thầy có giảng giải chung phận trước rồi; Áo đóng 6 nút hình tròn màu trắng 3 phân gọi rằng: vẹn Lục-thông tri thời tiền ứng, Sáu lần ba Thập-bát chuẩn thằng; Âm Dương Nhị-cửu hóa hoằng, Khải-thông lý thiệt huy hoàng Tam-chơn; Tràng hoán hậu Lục-thông chơn giác, thấu Tam-thừa định thoát mê mù; Số ba huờn cửu đuôi đầu mười hai; số mười hai khai lai Tý hội, Thập-nhị chơn giềng mối Lục-hào; Chia ra tỏ rõ làu làu, gọi rằng Nhị-cửu trước sau rõ Trời.

Trên bâu đóng 1 nút màu đỏ hình tròn 1 phân; Định nhứt tâm tôn nghiêm nhứt niệm, gọi hóa hoằng đốn tiệm truyền tin; Nguồn lành tế cấp Hoàn-dinh, chung nhau rõ lý vẹn xinh đức tài.

Khăn Thường-hành Đạo-phục 6 lớp chữ Nhơn; gọi rằng lý diệu hóa hoằng, Tam-thiên Tam-bá giăng giăng giáo truyền; Gồm về Tam-bửu huờn nguyên, Tam-tề Tam-lý giác viên Lục-thời; Lục-Long cơ vận thọ thời, Thiện nhơn tròn mỹ rõ Trời truyền ban; Gọi rằng Giáo-Tập danh vang, truyền tin báo ngữ lành an thiệt thường; Giáo nhơn vi thiện hạnh đường, Đạo-mầu tế cấp luân thường kỷ cang.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải Đạo-Thể Nữ Giáo-Tập

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 11 Mậu-Tuất 1958 (4 giờ khuya.

-------o0o-------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-lưu Sĩ-thượng chiếu Thanh-vân
OA ứng cơ-quang rọi Cửu-từng
KIÊM ngọc rạng ngời ròng báu quí
MẪU khuôn thành tựu thấu Năm-ân.

Giáng-Đàn mừng chung mỗi trẻ, Kiêm-Mẫu huệ lý thông truyền, chung con nơi lớp học Cao-Cấp Nữ-Oa, hãy định-tâm vưng nghe lời Kiêm-Mẫu giáo dục giảng giải Đạo-Thể Nữ Giáo-Tập đây chung mỗi trẻ. Giờ nầy SẮC con định-tâm tầm lý nghe lời đây Mẹ tứ phước giãi bày.

Về Giáo-Tập là Giáo-lý Thiên ban, tập tành chơn chánh, Thần-mạng thọ môn, mẫu khuôn thừa trực, Đại-Thiên-phong thành chơn chánh Dụng, Thể, Tướng; nguyên y khâm tuân pháp luật, thế thay Thiên-lý giáo dục hậu lai, tập thể thuần túy lương phong, hạnh nhân gương chiếu, đức hóa tường đồ, tánh tâm thông suốt, tu cải thông minh, thập phương ứng dụng diệu hành, truyền tin lành báo thông ngữ thoại, ban vui cho nhơn loại, cứu khổ Chúng-sanh, cội đức rõ rành, nguồn nhơn đề mục; phận Nữ-sĩ tu du kềm thúc; muốn siêu phàm tâm tánh mau thoát tục, hữu phận lập công, hữu danh kế hậu, Linh-quang nhập Thánh, vật dục đoạn rồi, Đạo-sĩ phương thời, đường hoàng sứ dụ, hốt-chiêm qui củ, liêm chính rạng đông, Đại-lực Đại-hùng, tượng trưng Ngũ-giới, Tam-tài cơ hội, thiện dụ tồn ư, định-tâm qui cửu, Đạo học Tam-thời, Tam-linh hiệp Trời, Tam-Thiên Cảm-Ứng. Nữ Giáo-Tập áo Khai-Dương có giảng giải thể dụng rồi; Lúp đội Thường-hành Đạo-thể, Tường-Liên Nhứt-Kiết là ứng dụng nhứt tri Tín-quang ngưỡng giác, Giáo vụ Tập thân, thành thể định tâm thông lý, Đạo-mạch kiền-thiền, áo kết 8 nút hình vuông Tứ-tượng, hình lớn 3 phân, màu nương cung phận, phẩm Giáo-Tập hạnh gương tỏ rạng, thành danh hiền Giáo ban Tập tề, Gọi rằng Nữ-sĩ Đạo kề, bổng bay tiếng sáng đề huề Tông-nghiêm. Áo 8 nút tiền ư Bát-bửu, Trinh-thần, Tín-định, Hiếu-chiêm, Đễ-vụ, Lễ-ngưỡng, Nghĩa-tường, Liêm-thân, Sỉ-tín; Tin cần dụng là Đạo; nút áo hình vuông tượng trưng Tứ-đức, Hạnh, Khiêm, Từ, Nhượng; hình lớn 3 phân là Tam-tài trí vụ, Phong-luân Cương-kỷ; Thiên-thời, Địa-lợi, Nhơn-hòa; màu ứng theo cung gọi: Trí cảm dụng cơ, huờn ư sở thích; trên bâu kết 1 nút 1 phân, hình tròn màu đỏ là: Nhứt tâm chí quyết thừa hành, Trọn tròn sứ dụ khâm thành khôi cơ; Đạo-phục khuôn-mẫu đồng qui bất dịch; Lúp gắn chữ phẩm vị Cửu-Trùng là vẹn.

Về chữ Yểm-Linh-Tự, tạo 4 chữ hình 7 phân, chữ Nho màu theo cung, chữ đề: GIÁO-TẬP THIỀN-BỘ, mang hình trí Công-bình, tiền phận, gọi chơn-chánh hạnh tài tế vận, Đạo hằng đức hóa.

Nầy SẮC trẻ, con toan lo học cho rạng danh Sư-trưởng, Giáo-chi đó con; Giáo-Tập là: một Sư-giáo truyền ban Đạo-pháp, cho hậu lai tập thuận mẫu khuôn; Lý Thiên thừa thế giáo truyền, Lương-sanh ứng dụng Đồ-nguyên Môn tề; phải phấn chấn, toan trỗi lý, dụng chơn niệm, tồn tâm-lý cảm Thiên-lương, trí qui phương nghĩa đó trẻ.

THI

Nữ nhân tiến hóa triển Tinh-anh
GIÁO-Lý muôn Linh phát khởi thanh
TẬP thể thành thân chơn chánh hiệp
Truyền ban Pháp Đạo Tam-tề thành.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức húy Thiên-Chơn, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp đặng chung nhau lớp học nghe chung rõ thông mục đích đề ban, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật roi hậu chơn truyền.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải Đạo-Thể Nữ Trị-Đàn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 8 tháng 11 Mậu-Tuất 1958 (6 giờ sáng.

-------o0o-------

THỂ-LIÊN TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thân quí giá bớ trò em
LIÊN hiệp chung nhau học vén rèm
TIÊN giác phá mê trần mộng ảo
NỮ hiền Nhu-sĩ phận nhìn xem.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, kính Cửu-Tý nương Đàn tỏ phân giảng giải Đạo-Thể Nữ Trị-Đàn cho rõ ràng đặng nêu vào Thánh-Luật kế hậu chơn truyền đây chung em Nữ-phái.

Giờ đây KIỂNG, THÌNH hai em định-tâm nghe Bổn-Cô phân tỏ, giải phân Lý Thể Trị-Đàn.

Chữ Trị là an bình ninh tự, Trị là thông phận sự phẩm nghi; Trị là thấu rõ thể vụ nhựt thì, Trị là xem xét quang huy trong ngoài. Đàn: Đàn-tiền gìn giữ đêm ngày, Tịnh an trí vụ ngưỡng oai linh toàn; Lễ thông diệu dụng vững vàng, thỉ-chung sắp đặt lặng an Đàn hòa; Đây là lý diệu thể mà, thể yên phẳng lặng lý gia tinh thần; Nêu cao không khí trong ngần, Mẫu khuôn qui củ hưởng Xuân thới thành.

Đạo Lễ-phục y khuôn mẫu, về Đơn-phục mang 4 chữ gọi Yểm-Linh-Tự TRỊ-ĐÀN XUÂN-BỘ; gọi Nữ xuân thông quảng trật tự đó; áo kết 4 nút hình vuông 3 phân, màu tùy cung, trên bâu kết 1 nút hình tròn màu trắng 1 phân; Về tiền thể y nguyên Dương ứng, Bốn nút là diệu dụng Tứ-chơn; Một là hạnh đức cao-sơn, hai là trật tự nghĩa-nhơn năng hoằng; Ba là: từ niệm khiêm toàn diệu âm; Bốn là kỉnh nhượng ấm đầm thỉ-chung; Ba phân thông hiểu phăng tầm Tài-tam; Hình vuông: vuông là khuôn mẫu vững vàng, thiệt vuông là phận tròn trên Kim Đoài; Trên bâu nhứt điểm vẹn hay, tròn vuông hòa hiệp Một tài hóa Ba; Qui về Bốn-đức một Tòa, Âm Dương phản phút gọi là thể nguyên. Mừng chung lớp học mỗi em định học, Bổn-Cô tỏ bày tuần tuần tỏ rạng chơn truyền Đạo-pháp tường quang rạng rỡ.

Kính chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Nữ-Oa đặng chung lớp học nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể của Toàn-Ban Hiệp-Thiên-Đài

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 11 Mậu-Tuất 1958 - 12 giờ trưa)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lịnh ban hành khải Cửu-Cung
HOÀNG Thiên chứng giám Đạo huờn Trung
ĐẠI thừa Thánh-Luật tròn vinh diệu
ĐẾ Chủ Khôn Càn lý Thượng-Khung.

Thầy mừng thay con trẻ chung nhau tu học hiện giờ, vậy chung nhau định-tâm vưng nghe Thầy ban lời dạy bảo đây chung mỗi trẻ.

THU, con định-tâm thông lời Thầy phán giáo dục Đạo-Thể của Toàn-Ban Hiệp-Thiên-Đài bổn phận đây con trẻ.

Về qui củ Áo, Mão Khai-Dương Tiên-Thiên khí tượng Thầy đã dạy trước rồi. Về phận sự diệu hành Thiên-Lý gọi tập dụng thanh phương đó trẻ.

Áo kết 5 nút màu đỏ hình tròn 3 phân, trên bâu kết 1 nút 1 phân hình tròn là: Về Dương vụ kỳ quang Xích-Đạo, Tượng hỏa diêm khắc bạo trừ tà; Gọi là màu đỏ Dương gia, Tượng trưng tâm-lý gọi Ca-Thích thiền; Năm-hằng Đạo-pháp huờn nguyên, Bền cầm Năm-luật giác-viên thân hình; Nêu trên một nút nhứt kinh, Do Trời Độc-Nhứt nhứt tin chiếu Càn; Đây là phận sự Thiên-can, lập thành Dương-khí bình an diệu hành.

Chữ mang tỏ phận 4 chữ phái nào màu đó, chữ 7 phân đề: HIỆP-THIÊN DIỆU-BAN. Đây là tượng trưng phận sự rạng rỡ đó trẻ.

Về Hiệp-Thiên-Đài là Dương-tín gọi diệu pháp mầu thâm là thanh vụ. Phận Giáo-Tập mang chữ Yểm-Thần-Tự đề 4 chữ: GIÁO-TẬP THÁNH-BAN; đồng mang kiến tường Công-chí, là thường trạm tiền tâm, khí tượng ứng hầu Đạo-đức đó trẻ, chữ nầy để mang với áo Đơn-phục hành Đơn-lễ cùng Đạo học; về hành-lễ qui củ thể hành, tường y chung-thỉ. Hiệp-Thiên Diệu-Ban, thọ pháp luật gìn qui Thiên-lịnh, thọ Thiên-mạng diệu hành nghĩa-phương pháp lý; Giáo-Tập Thánh-Ban thọ Thần-mạng Thánh tồn trí vụ, vưng Thiên-lịnh, thọ Thiên-mạng Pháp Đạo, thừa hành chơn giác, bình tịnh ninh nhơn là trí hòa nghĩa vụ đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Đạo học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể Thánh-cơ quang chói cảnh ánh thiện nguyên Tam-Hoàng Sơ-Bổn, Ngũ-Hành-Tòa điện

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 10 tháng 11 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành Trời tế hỡi nầy con
HOÀNG-lịnh ban phong trẻ khá tròn
ĐẠI-lực Đại-hùng qua bể ngạn
ĐẾ-ân tế khắp hỡi nầy con.

Thầy mừng mỗi con chung trẻ, đến đây lớp học Diệu-lý tinh-thần vừa vẹn trong niên Mậu-Tuất; vậy Thầy mừng thay con trẻ Tin Thường Thiệt; Nhơn, chí đức; Thầy mong thay con trẻ bền cầm Đạo-pháp, trỗi lý bước sang Kỷ-Hợi tấn hành pháp diệu đó chung con trẻ. Giờ đây Thầy ban ơn chung con trẻ, mừng thay! Xuân thay! con cả chung trường cố kiên phận sự, gắn chặt keo sơn, tuần tuần khí vận, thoại điềm đức hóa đó chung mỗi con hiển hiện lý sáng, trỗi tường quang chiếu.

NGỌC con, phận sự Chưởng-Quản Cửu-Trùng vưng nghe Thầy ban dạy, đến đây cơ vận huờn Sơ, Thượng-qui ứng dụng, khai tượng Ngũ-châu, Tu-Di ứng Thánh-Cuộc, Thiên-Bồng trỗi tiếng bổng bay. Vậy con nghe Thầy giáo dục Đạo-Thể Thánh-cơ quang chói cảnh ánh thiện nguyên Tam-Hoàng Sơ-Bổn, Ngũ-Hành-Tòa điện, dựng lập khuôn mẫu thể đây; hình vuông 21 thước, hình cao 18 thước, 7 nóc gọi Ngũ-Hành Thất-Đẩu, mỗi căn phân đồng; Trung-qui Huỳnh-trụ 3 từng; một từng trên thờ Nguơn-Thần cùng Đạo học; từng hai Ngũ-Hành Thất-Đẩu ngự hoặc hành dụng diệu chơn, lưu hành thông cáo Đạo-pháp kinh bài; từng ba tùy chơn diệu dụng Ngũ-Bộ Thất-Lôi ngự hành cùng Thời-Quân trí sự hành cơ, tạo thành túc tác, khởi hành phụng Thiên-lịnh Đồ-Thơ, thừa Thiên-mạng tế chú.

Tạo một ngôi Thanh-Quang-Điện để Trị-Đàn tịch ngự diệu hành hai từng, hình cao 15 thước, hình lớn 18 thước, từng trên thờ Ngôi-vị Nguơn-Thần Trợ-Tá cùng là Đạo học hay Hạnh-Đường tùy cơ, từng sau ngự vụ diệu dụng; khi tạo do Thiên-lịnh, thừa Thiên-mạng, tích giáo Đồ-Thơ.

Chung tạo một cảnh Thanh-Trí-Điện, hình cao 15 thước, hình vuông 18 thước, hai từng. Điện nầy Giáo-Tập, Đồng-Tử định nghỉ cùng hành phận; một từng trên thờ Nguơn-Thần Trợ-Tá, thừa khi Đạo-Tràng cùng Hạnh-Đường tùy cơ tuần tuần Thầy giáo; từng hai Đồng-Tử, Giáo-Tập ngự cùng hành phận.

Vậy Thầy gia ban giáo truyền mừng con vưng tuân về tạo chỗ nền thừa cơ vận, trí mạng giáo chơn Thiên-tế đó chung con trẻ.

Về Thập-Nhị Nguyệt-Tướng ngự cùng diệu hành phận sự nơi Thập-Nhị Khai-Huỳnh, Khách-Đình Bảng-Ngọc, là Tòa-Điện Ngoại-Giao Liên-Hòa Giáo-Chủ, tâm-lý mật truyền thể vụ; Điện nầy gồm đồ trí, từng chót 12 chi đủ gọi Giáo-Tông Tòa-Điện gọi Thông-Quảng Giáo-Tông-Đài, sắp đặt mẫu khuôn, trí định phụng Thiên-lịnh, thừa Thiên-mạng đồng con trẻ, tuần tuần thiện dụ Thầy sẵn giáo tường đó là chung nhau lớn nhỏ.

THI

Chung nhau lớn nhỏ ráng dò nguyên
Giáo-lý Trời trao rõ mối giềng
Phận sự tuần tuần noi Chánh-pháp
Tượng trưng Thánh-Luật đặng bình yên.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Diệu-Linh-Đền Đạo học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Sắp đặt trật tự mẫu-khuôn Thánh-cảnh Trung-Ương Thiên-thời Địa-cuộc Tu-Di Tòng Bá Nhơn-hội Hoàng-đồ, ứng Tam-huê, vạn-linh cảm lý, hòa Tụ-đảnh gọi Khai-Thiên Tịch-Địa Thủy-Bích Cực-Quang, Thể tường Lý huệ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 5 Kỷ-Hợi 1959 (10 giờ tối)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ
HOẰNG NAM HÓA ĐẠO

THI

NGỌC Lịnh thiện hành khải Cửu-Cung
HOÀNG-đồ độ dẫn cả con chung
ĐẠI ân Trời xá hiền Trung-giái
ĐẾ Chủ Càn Khôn xuất Thượng-khung
HOẰNG Bốn-báu lành truyền điển-huệ
NAM-Bang Hồng-Lạc thấu qui tùng
HÓA-Nhi vận chuyển Huyền-linh cảm
ĐẠO chánh Chơn-thần định ứng phùng.

NGỌC, con nghe Thầy ban lời sắp đặt trật tự mẫu-khuôn Thánh-cảnh Trung-Ương Thiên-thời Địa-cuộc Tu-Di Tòng Bá Nhơn-hội Hoàng-đồ, ứng Tam-huê, vạn-linh cảm lý, hòa Tụ-đảnh gọi Khai-Thiên Tịch-Địa Thủy-Bích Cực-Quang, Thể tường Lý huệ đây con trẻ.

Trung-Ương trụ Phướn 12 thước bề cao, vẹn rồi trước hết của đôi bên tả hữu, nối theo Thái-Cực Thủy-Hồ, về Cung Điện lưỡng-nghi trong Nhị-Cửu Hoàng-Đồ.

BÊN ĐÔNG-CHÂU DƯƠNG-CHẤN:

1. Đông-Thắng Thần-Châu Trí-Điện.

2. Ngũ-Hành Thất-Đẩu Tòa.

3. Thanh-Trí-Điện.

4. Thanh-Quang-Điện.

5. Châu-Thanh-Điện.

Cảnh nầy Đồng-Nhi gọi Châu-Tân-Ban ngự Diệu-hành Đạo-đức, thước tấc mỗi Cung, Điện nầy in nhau.

6. Đông-Lang Đinh-Ninh Điện.

Thờ Tứ-Thánh, toàn tất Viên-Ban Đạo-đồng thuộc Cửu-Trùng phận sự.

7. Ngũ-Hiệp Lương-Quang Điện.

Điện nầy giao tế tương môn, đối diện hình tượng Cửu-Hà Viện-Khúc, thước tấc thể đồng y, gồm Khố-phẩm, Viên-Ban hữu trách nhiệm là Chánh-Phối-Sư đến Giáo-Sư lập phòng hành diệu.

8. Nam-Thiệm Bộ-Châu Dương-Điện.

Kề giao Bửu-Thơ Toàn-Điện, về Tiền-đạo hướng vào cập với Thái-Cực-Hồ.

9. Đông-Quang-Đình.

Hình cao 5 thước 3 tấc, một từng trệt hình dài 9 thước 3 tấc, hình ngang 7 thước; kiến tạo tùy phương, phía hậu ngang Thiên-Phong-Đường.

10. Tam-Bửu-Điện.

Hình lớn vuông 12 thước, hình cao 12 thước. Có lầu, kiểu cách tùy thời lập thể; hướng cảnh vào Trung-ký tiền cơ về Tây-Ngọc Phương-Đoài, dựa theo Thái-Cực-Hồ.

11. Tây-Linh-Xá.

Khuôn-mẫu tương tề Đông-Quang-Đình, hai Cung cảnh Điện Đình nầy để khi Đạo-đồng trong đó dầu ai Liễu-phàm thành Đạo, có đem Mộc-nhục đến trình Lễ cầu kinh, đi vào ngự tùy theo Nam Nữ trật tự.

VỀ TÂY-ĐOÀI PHƯƠNG-NGỌC DUNG-QUANG:

Lập như vầy, trước hết:

12. Tây-Ngưu Hạ-Châu Thánh-Cung.

13. Nữ-Oa Liên-Điện Đoài-Cung.

14. Phước-Trí-Cung.

Để Ban Trị-Đàn Xuân-Bộ ngự.

15. Phước-Quang-Cung.

Giáo-Tập Nữ-phái gọi Thiền-Bộ ngự, hòa với Thư-Hiền-Hảo gọi Ban, Bộ diệu-hành.

16. Ngọc-Bích-Cung.

Định Nhi-Đồng Nữ-phái gọi Ngọc-Tảo-Bộ ngự, trí lễ hành.

17. Tây-Lang Huệ-Lương Hương-Cung.

Thờ Cửu-Cung, toàn tất Phương-Bộ thừa ngự.

18. Cửu-Hà Viện-Khúc.

Để Cửu-Viện tri vụ diệu hành, kiến đức hoằng nhơn.

19. Bắc-Cù Lư-Châu Quang-Cung.

Ngang Bửu-Thơ giao vị Nam-Thiệm Bộ-Châu, kề Thiên-Phong-Đường.

20. Tam-Thanh-Điện.

Hướng giao phương tiền Thánh-cuộc. Điện nầy 12 thước hình vuông lớn, 12 thước hình cao, tương giao Tam-Bửu-Điện, có lầu.

21. Thiên-Phong-Đường.

Hình ngang 12 thước, hình cao 12 thước, hình dài 27 thước, hướng lý vào trong trung cơ mặt hậu Bắc-Môn Khải-Lộ. Điện nầy để Hội-Thánh Lý Thể Nam Nữ diệu lập tín hành, pháp nguyên trí dụng.

Về Cung Điện Đông, Tây hòa Môn tế Viện ký quang. Về Đông-Lang, Tây-Lang kiến cơ nhi tác, kề hai bên tả hữu của Bửu-Điện gọi Đông cùng Tây; tạo hai khuôn lộ cho quang minh trật tự, hữu danh Thiên lập là Đông-Thanh-Đạo, Tây-Hương-Đạo; khuôn lộ bề ngang 9 thước, thức kiến châu toàn thiết lý.

Về chánh tâm là Hoàng-Đạo Tu-Di, Trung-Thiên Cửu-Thông trùng Nhị-khí.

* Bát-Quái-Đài.

Tích cực Ngũ-hành và Nữ-Oa vào Trung Huỳnh-Đình yết trướng, hình ngang Đông Tây chỉ dặm băng ngàn, có tạo hình Nam-Càn-Lộ tế giao Trung-Đảnh, tả chỉ hữu Bích, hữu thức vô hình trung nhưng khải-thông Đông-Cơ, Tây-Cuộc.

* Hiệp-Thiên ứng Cửu-Trùng-Đài.

* Châu-Thiên Bắc-Khuyết Huyền-Quang.

Kế đó tạo Bắc-Khôn-Lộ, kề đó Bửu-Thơ Toàn-Điện, Thiên-lý thông truyền gọi Thái-Cực-Đồ trí tim Tính Nam-Thiệm Dương-Điện, Bắc-Càn Quang-Cung.

Về tiền dụng Hoa-Viên viện cảnh Thầy có dạy trước rồi; Thông-Thiên-Đài mỗi con trí trụ, do Thầy phác đây kiến tạo, kề tiền Bá-Hoa-Viên, hậu Tam-Tôn Huê-Đảnh.

Mừng NGỌC con, phải hiệp tâm nhứt trí lý giao khai huệ Thần Hồn kiến tạo hành vi, Luật Thầy sai khiển, trong đó minh trưng rạng rỡ, gầy đây khải dụ tỏ tường, lý gọi Trung-Ương thể Tòa Thiên-Quốc, Hoàng-Đạo chiếu đồ, Thánh-Đức lập trần đó trẻ.

THI

Ngọc ngà Thầy sắm đã từ lâu
Lịch-sử lưu lai nhạn vãng sầu
Phổ biến năm nơi nhìn mối Đạo
Hóa hoằng đức mĩ sáng làu làu.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng gọi học tập của mỗi trẻ Cao-Huấn đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật kế truyền. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Sắp đặt mẫu-khuôn Chơn-hiền huy hoàng nơi Thánh-Luật chung trẻ diệu-hành

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 6 Kỷ-Hợi 1959 (10 giờ tối.

---------o0o---------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-sĩ phát minh độ dẫn hiền
(H)OA đơm, nhụy nở Đạo cần chuyên
KIÊM toàn nhân hậu thuần Chơn-mạng
MẪU Tử đề-huề ứng cảm huyền.

Kiêm-Mẫu mừng chung con Nữ-phái, Cao-Cấp Đoài Cung, ứng chiếu học đường, Liên-Tòa Cửu-phẩm, giờ nầy đồng nhau Nhu-sĩ Chư-hiền định-tâm vưng tuân lời giáo, Kiêm-Mẫu sắp đặt mẫu-khuôn Chơn-hiền huy hoàng nơi Thánh-Luật chung trẻ diệu-hành, ánh Đạo mầu quang Thượng-qui Thánh-đức, đó trẻ.

THẬP-BÁT-LÝ

Đức-hóa Thanh-phương, Pháp-thiền Thể-dụng.

1. Là Đầu-Sư Cung-Bích: Trọn thủ Diệu-hành, Công-Quả lập đức, gọi dẫn lối Sanh-dân, phụng Thiên Sự, Lý.

2. Là Đầu-Sư Cung-Quỳnh: Trọn thấu Huyền-vi Công-Trình luyện trí, phải hướng lành dụng lý giác tha khai khiếu Chúng-sanh hoàn thành trí-huệ.

3. Là Đầu-Sư Cung-Diêu: Trọn chí Kỉnh thành tín-ngưỡng Công-Phu phải bình hòa thông lưu Chánh-tín chỉ dụ Chơn-thần, hướng đồ tác kỷ.

4. Là Đầu-Sư Cung-Liên: Trọn thanh Lễ-độ chiêu đãi Lễ-độ ứng tâm túc-kỷ giáo lai kiến hậu giao từ.

5. Là Đầu-Sư Cung-Quế: Trọn thông Trật-tự Tịnh-Đàn Tôn-nghiêm trật tự, anh minh rực rỡ, tri tường chung-thỉ trung hòa.

6. Là Đầu-Sư Cung-Ngân: Trọn nguyện Khải-thông thọ thể phổ-tế truyền lành ban phải, cầu Đạo uyên thân, hướng đồ gương mẫu.

7. Là Đầu-Sư Cung-Nghê: Trọn nhiệm Thanh-khiết tế-thế hướng thiện Bác-ái duy trì, nêu cao Hương-vị, sứ nhiệm châu toàn, Từ tâm, Bi tánh, trong sạch độ đời hướng đồ giáo-dụ.

8. Là Đầu-Sư Cung-Lục: Trọn huệ Hiến-chương Tân-dân hoàn mỹ phải gương lành trí huệ giáo dân, phá tục tồn thanh, hoán trần trược huờn thuần tín mỹ, tường chơn, thường thiệt tâm, tinh-thần Thượng-trí, phát giác lập trần, Xuân Thu nhân-vị, Hiến-pháp chương-trình, thanh cao đức hóa.

9. Là Đầu-Sư Cung-Thạch: Trọn tài Kinh dĩ Minh-đức điều chỉnh phải hướng đồ, Ý chí anh minh gương mẫu Nữ-lưu, Tánh Dĩ-đức tài tô nhân-hậu, Tâm trung hòa điều độ chỉnh thân, lập thể ứng dụng tùy thời tế-vận, thuần túy mẫu-khuôn, quang-minh nhân-cách đó.

VỀ CỬU-VIỆN

1. Là Viện-Trưởng Cung-Bích: Hóa-Lý Cung-Thiềm, Trọn hòa Thượng hạ, trọng trách Đạo-mầu giao tiếp.

2. Là Viện-Trưởng Cung-Quỳnh: Hóa-Nhơn Thanh-Lý, Trọn thông Đạo-đức cương-kỷ minh tuyền, móng-mô nhân hậu.

3. Là Viện-Trưởng Cung-Diêu: Hóa-Trược Hồi-Thanh, Trọn vô Ngã vị thuần chơn lai kiến.

4. Là Viện-Trưởng Cung-Liên: Hóa-Hối Cập-Tân, Trọn đắc Kiền-thiền pháp chánh gọi Chánh-tín thông thần.

5. Là Viện-Trưởng Cung-Quế: Hóa-Dụng Liên-Thông, Trọn trượng Củ-qui lý nghĩa chấp-vãng Cảm-ứng, lý ban nghĩa thạnh.

6. Là Viện-Trưởng Cung-Ngân: Hóa-Năng Giáo-Ngữ, Trọn tường Văn-hóa Huấn-học Dân-trí thức thời, huy hoàng chánh-thể.

7. Là Viện-Trưởng Cung-Nghê: Hóa Dụng Toàn Lương, Trọn phùng Kinh phẩm Lương-tài, Tín-uy, trù dự sanh dưỡng.

8. Là Viện-Trưởng Cung-Lục: Hóa-Trí Tri-Năng, Trọn bảo Thư-chương thông truyền tinh-anh tài-mục phát triển Hiến-lai, lưu hành Đạo-pháp.

9. Là Viện Trưởng Cung Thạch: Hóa-Đức Thông-Nghệ, Trọn dụng Cương-kỷ thừa nghiệp gồm ninh dụng quảng đức Dụ-tri, cương-kỷ, nhuệ, Liêm-cần, phát triển chơn-chánh bác y thân ái, lương hòa thuần hậu nghĩa-nhơn đó.

Vậy giờ nầy chung con Nữ-phái học đây Lý sáng Mẹ trao, Thể chơn trẻ cần lập, Nguyên Dụng huy hoàng, châu toàn Thượng-đức đó trẻ.

THI

Cửu-Cung lâm hạ cứu trần-ai
Cửu-Viện thế Thiên Trí Đức Tài
Thập-bát Lý-mầu thông Huệ-pháp
Mẹ ban Thánh-Luật kể từ nay.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy Nam-Công đọc trước giờ lớp học Nữ-Oa Cao-Cấp đặng chung nhau nghe hiểu thức hành cho rạng rỡ, đừng bôi phận sự nhiệm kỳ, Lý Pháp năng truyền đức hóa đó, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh Luật chơn truyền lưu hậu, kiến đức lai hy, Đạo-mầu cứu thế tồn thanh đây chung phận.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Sắp đặt mẫu-khuôn Ban, Bộ để thừa hành lịnh Trời cùng Hội-Thánh Lưỡng-ban

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 6 Kỷ-Hợi 1959 (3 giờ chiều)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng chiếu soi khắp cõi trần
HOÀNG-đồ độ dẫn cả muôn dân
THƯỢNG hành Hạ ứng đô Công-đức
ĐẾ sắp tròn vuông dạ hiến dâng.

THU, NGỌC, NINH, HÀNG; bốn trẻ phải ân cần sắp đặt mẫu-khuôn Ban, Bộ để thừa hành lịnh Trời cùng Hội-Thánh Lưỡng-ban; dầu nam nữ Ban hay Bộ cần có Ban Thường-Thức Thông-Hành đặng điều chỉnh trong Ban đó hoặc Bộ phận chung.

Ban nầy có 5 phận:

1. là Thông-Lý Huấn-Từ.
2. là Thông-Pháp Củ-Qui.
3. là Thông-Đức Tế-Thế.
4. là Thông-Nghĩa Đằng-Liên.
5. là Thông-Tín Giao-Trí.

Gọi:

- Thông-Lý: để cần trao đổi giáo dục chung nhau trọn chí về lành, huấn tràng luyện tập, cho tròn hạnh hiếu.

- Thông-Pháp: có bổn phận sắp đặt khuôn-mẫu luật lệ Đạo-pháp cho rạng rỡ minh trưng chánh kỷ lập trần.

- Thông-Đức: có bổn phận ân cần lập đức, nung nấu tinh-thần lập công chánh đức, tế cập hậu lương, trong ngoài rạng rỡ Tam-công tấn hóa ý chí Bác-ái hoằng thanh vấn vụ.

- Thông-Nghĩa: có bổn phận nung nấu Ban hay Bộ đó cần làm cho có nghĩa phương chơn vụ.

- Thông-Tín: có bổn phận điều chỉnh Ban hay Bộ đó, đồng xây dựng Tín-qui, không rời trong giây phút, đó là Đạo-đức lập trần đây chung con trẻ.

THI

THU, NGỌC hai con ráng chí cần
NINH, HÀNG khắn khít lập đời tân
Chung qui bền dạ tua ung đức
Hữu phận trỗi thần đức phước ân.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo học nơi Vô-Vi-Cảnh Diệu-Linh-Đền Thánh-Điện, gọi lớp học Lý Tinh-Thần, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Rõ thông Lý Luật chỉnh điều, mẫu-khuôn trật tự

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 6 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng dựng gương sắp Luật-Điều
HOÀNG thành khuôn-mẫu Đạo danh nêu
THƯỢNG-Nguơn căn-cội không sai sót
ĐẾ chiếu Huyền-quang ánh Thiện-phiêu.

CỘI, con nghe Thầy ban lời dạy bảo đây, chung con trẻ rõ thông Lý Luật chỉnh điều, mẫu-khuôn trật tự đó trẻ.

1./ là Nguyễn-văn-Cội Trực-Kiên
2./ là Phan Trực -Mãng
3./ là Quì Trực-Trừ
4./ là Thủ Trực-Bình
5./ là Thình Trực-Định
6./ là Ấn Trực-Chấp
7./ là Hợi Trực-Phá
8./ là Khởi Trực-Nguy
9./ là Trừu Trực-Thành
10./ là Hiếm Trực-Thâu
11./ là Nhiểu Trực-Khai
12./ là Đệ Trực-Bế.

Đây là Đẳng-vị của Vận-khí hòa khuôn ứng dụng thời tế lưu thông pháp chuyển Huệ-Luật Chí-công hoằng đức vô tư truyền Đạo, Chí-chánh thông pháp, bình hòa nhân hậu thuần túy giao tiếp, cách hoán xử cư, Liêm tề thống hiệp cần học thanh dụ, thiểm thức thông lưu, Tân-dân Trung-thứ, Cao Kiên Minh-đức, kiện biệt Nhân-vị. Trong 12 Huệ-Pháp che đậy đỡ nưng hoàn tất; Thân, Tâm, Tánh, Mạng Vận Thời, bửu trí trong đây xây nền dựng móng, Đạo-đức lập trần, toàn bằng nguyên vị; trong 12 đề Phổ-tế, Tam-tài nhân tính vị thanh, Tứ-đức điền khuôn, Ngũ-thường phong mỹ, Lục-trí thông thời, Thất-hoàng giác kỷ, Bát-bửu lương ôn, Cửu-cách tường cơ, điểm danh thế phận hữu trí vị đơn về Diệu-hành cần thông suốt chung qui là nhiệm vụ toán đơn.

1./ là Trực-Kiên : Chí-Công Hoằng-Đức
2./ là Trực-Mãng : Vô-Tư Truyền Đạo
3./ là Trực-Trừ : Chí-Chánh Thông-Pháp
4./ là Trực-Bình : Hòa-Bình Nhơn-Hậu
5./ là Trực-Định : Thuần-Túy Giao-Tiếp
6./ là Trực-Chấp : Cách-Hoán Xử-Cư
7./ là Trực-Phá : Liêm-Tề Thống-Hiệp
8./ là Trực-Nguy : Cần-Học Thanh-Vụ
9./ là Trực-Thành : Thiểm-Thức Thông-Lưu
10./ là Trực-Thâu : Tân-Dân Trung-Thứ
11./ là Trực-Khai : Cao-Kiên Minh-Đức
12./ là Trực-Bế : Kiện-Biệt Nhân-Vị.

Vậy mỗi trẻ thừa phận học đây diệu-hành, sắm sang cho rạng rỡ 4 chữ Yểm-Linh Huệ-Giác-Tự để mang theo Áo Đơn-phục, chữ 7 phân, lý giải trước rồi, 4 chữ thể đây "TRỰC KIÊN NGUYỆT TƯỚNG" chữ màu đen, gắn bên mặt gắn qua, chữ gắn vào Khăn Tam-Bửu, thể Tam-Thanh, chữ 3 phân chữ màu đen, gắn bên mặt trước, Thể Lý lưu hậu, Khăn Đại-phục, Mão đồng có gắn hết, lớp Khăn, Thẻ Mão tùng Tước-vị Cửu-Trùng, nếu có phận nào lịnh thâu chưa thọ tước, đội Khăn đen 12 lớp là Đạo-phận, Khăn Tam-Thanh thế cho toàn Lễ-dụ, phải 12 lớp là: về Huệ-Luật Tam Tam Ấp-tổn hòa Tam-lương Thiên-độn Tam-gia; Nút Áo 3 phân xéo hình tam-giác, với Bố-Tử 21 phân hình Kim-chuyên chữ TRỰC màu đen là Công-tâm Tế-pháp, Trí-huệ phá mê, gồm chung gọi là: Huệ-Luật Đạo-Tướng, thông Tam-lý, suốt Tam-thể hành dụng Tam-chơn, ấy là: Tam-ngũ Qui-gia, Tam Tam thức thiệt, Tam-đạt Thường Tin đó. Vậy mỗi trẻ học thông phận sự, Trời trao sắm sang lễ Trung-Thu vẹn chỉ.

SÁU, con hữu phận gia tâm chiếu hậu, về Trống chào phúc đáp theo nghi thức mỗi Phẩm-vị Hành, Đãnh-lễ hoặc Bái-mạng; chung con nghe Thầy ban dạy đây là khuôn-mẫu lệ mỹ.

Trống chào Tam-Hồn Đãnh-lễ:

1./ là Thần-Hồn: trước vào 12 tiếng, thúc nhịp một hồi 72 tiếng, nhồi thúc 3 lần 24, rồi lại 3.
2./ là Linh-Hồn: trước vào 12 tiếng, một hồi 72 tiếng, nhồi thúc 6 lần 12 đổ vót, lại 3.
3./ là Anh-Hồn: trước vào 12 tiếng, một hồi 72 tiếng, nhồi thúc 4 lần 18 đổ vót, lại 3.

Đãnh-lễ, Hành-lễ chung ba phận lại 9, hai phận lại 6, một phận lại 3.

Trống chào Tam-Tông:

1./ Giáo-Tông-Đài: trước vào 12, một hồi 81 đến 51 thúc, đổ vót lại 3.
2./ Hiệp-Phong-Đài: trước vào 12 một hồi 81 đến 72 thúc, đổ vót lại 3.
3./ Hiệp-Chưởng-Đài: trước vào 12 một hồi 81 đến 67 thúc, đổ vót lại 3.

Hành-lễ, Đãnh-lễ chung ba phẩm lại 9, hai phẩm lại 6, một phẩm lại 3.

Trống chào Chưởng-Quản, Chưởng-Pháp, Đạo-Đài:

Trước vào 12 tiếng, một hồi 72 đến 36 thúc đổ vót lại 9.

Riêng Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài: trước vào 12, một hồi 72 đến 36 thúc đổ vót lại 3, Chưởng-Pháp cũng thể.

Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài: trước vào 12, một hồi 72 đến 45 thúc đổ vót lại 6, Chưởng-Đạo cũng thể.

Quyền, Phó Chuởng-Quản, Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo.

Hộ theo Đài, 72 tiếng chào, không thúc trước, không lợi sau khi Hành-lễ chào nghi Chánh-vị.

Trống chào Tam-Bửu: trước vào thúc 3 tiếng, tiếp 36 tiếng, 12 lần 3. Đủ Tam-Đẳng Bửu lại 3.

Phó Tam-Bửu: chào 36 tiếng trơn, Hành-lễ chào nghi Chánh-vị.

Trống chào Đầu-Sư: 18 tiếng 6 lần 3.

Quyền Đầu-Sư: trước vào nhịp 3 tiếng nhỏ, 15 tiếng 5 lần 3. Hành-lễ chào Đầu-Sư.

Trống chào Thiên-Lý, Thể, Tứ-Bửu đồng thể y 16, 4 lần 4.

Chào Quyền, Phó Tứ-Bửu: 14 tiếng, 7 lần 2.

Trống chào Ngũ-Hành: 21 tiếng, 3 lần 7.

Ngũ-Hiệp: 21 tiếng, một hồi.

Trống chào Nam-Tào-Công, Bắc-Đẩu-Cuộc 24 tiếng, 3 lần 8.

Trống chào Nam-Lai, Bắc-Hiến-Quang: 26 tiếng một hồi.

Trống chào Cửu-Cung: 45 tiếng, một hồi lại 3.

Cửu-Viện: 54 tiếng, một hồi lại 3.

Trống chào Chánh-Phối-Sư: 15 tiếng, một hồi. Nhưng Đãnh, Hành-lễ Nam hay Nữ Phẩm-đẳng Cửu-Trùng.

Về Trống chào Bái-mạng Nhứt-tin:

1./ là Toàn-Ban La-Hán: giờ Bái-mạng chào, trước vào 3 một hồi 18 tiếng, lại 3.
2./ là Diệu-Ban: một hồi 18 tiếng, lại 3.
3./ là Thánh-Ban Giáo-Tập: Thầy thâu, chào một hồi 19 tiếng, lại 3.
4./ là Khánh-Ban Trị-Đàn: chào một hồi 19 tiếng do Thầy chọn.
5./ là Tín-Ban Đồng-Tử-Quân: chào một hồi 38 tiếng, lại 4 tiếng.
6./ là Xương-Ban Thanh-Thần: chào một hồi 39 tiếng, 3 lần 13.

Về Nữ-Bộ

1./ là Thanh-Bộ Đạo-Cô: Trống chào trước vào 3 một hồi 24 tiếng, lại 3.
2./ là Huệ-Bộ: một hồi 24 tiếng, lại 3.
3./ là Thiền-Bộ Giáo-Tập: một hồi 22 tiếng, lại 3.
4./ là Xuân-Bộ Trị-Đàn: một hồi 22 tiếng.
5./ là Dung-Bộ Thư-Hiền-Hảo: một hồi 23 tiếng, lại 3.
6./ là Khương-Bộ Phước-Thần: một hồi 33 tiếng, lại 3.

Trống chào về Thiên-mạng Đài-Tam:

1./ Thời-Quân: một hồi 30 tiếng.
2./ Tứ-Phối: một hồi 32 tiếng. Đãnh, Hành-lễ đồng chào.

Trống chào Bái-mạng của Đài-Tam Thiên-mạng:

- Nguyệt-Tướng: một hồi 36 tiếng.
- Chào Ngũ-Bộ Công-Thần: trước vào 12 một hồi 108 đến 36 tiếng, thúc nhồi 3 lần, rồi đổ vót lại 3.

Trống chào Bái-mạng Phẩm-tước Cửu-Trùng Phận-sự

- Phối-Sư: 12 tiếng
- Giáo-Sư: 9 tiếng
- Giáo-Hữu: 6 tiếng
- Lễ-Sanh: 3 tiếng.

Trống chào phận sự Ban-Cai-Quản, Đãnh-lễ, Hành-Lễ.

- Hội-Trưởng: trước vào 3 một hồi 27 lại 3.
- Phó Hội-Trưởng: trước vào 3 một hồi 27 lại 6, Đãnh-lễ, Hành-lễ chung lại 9.
- Trống chào Từ-Hàn Chánh, Phó: trước thúc 3 tiếng một hồi 25 tiếng.
- Từ Thủ-Bổn kế sau đồng chào: trước thúc 3, một hồi 25 tiếng.
- Trống chào Ban-Cai-Quản Nữ: một hồi 31, lại 2.

Về trật tự Ban-Cai-Quản: Hành, Đãnh-lễ nơi Thánh-Thất, vào Trung-Huỳnh Hội-Trưởng, Phó Hội-Trưởng trong nơi Nguơn-Thần đi vào, còn mỗi phận nơi trước đi vô, nhưng thừa trực Trung-Huỳnh, Hội-Trưởng, Phó Hội-Trưởng thế thay Chưởng-Quản, cấp vị nơi Thánh-Thất; Chánh Dương, Phó Âm đồng Ban-Cai-Quản Nam Nữ; về đơn vị Đạo-Tín, mang chữ Yểm-Linh-Tự, chức trách nhiệm kỳ, Y-phục theo tước phẩm Ban-Cai-Quản về nơi Tòa-Thánh Đãnh-lễ có Trống chào nhưng thọ đẳng Cửu-Trùng địa vị, Hành-lễ không có chào.

Từ đây nơi Tòa-Thánh, Thánh-Thất, giờ hành Đàn-lễ chào đáp chung qui, chào bổng 15 tiếng, gọi thể Chánh Phối-Sư, không vương tế Tước.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đặng trong đó nghe hiểu chung nhau rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Mẫu-khuôn qui-củ, thêm phần Huệ-Bộ, với Dung-Bộ Thư-Hiền-Hảo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 7 Kỷ-Hợi 1959 (3 giờ chiều)

---------o0o---------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-sĩ từ đây cố vén màn
(H)OA tươi gìn tốt rạng nồng nàn
KIÊM Triều giữ phận xinh mầu thắm,
MẪU Tử sum vầy phải vững an.

TRÂM, con vưng lịnh Mẹ soạn bài dưng về Đạo-phục, Thiên-tước Nhi-đồng, Nữ-phái phận sự châu toàn. Vậy chung con định-tâm nghe Kiêm-Mẫu giáo truyền mẫu-khuôn qui-củ, thêm phần Huệ-Bộ, với Dung-Bộ Thư-Hiền-Hảo, đây chung trẻ dò phăng cố kiên Chơn-truyền Thánh-luật.

Về Huệ-Bộ Thông-lý Đoài-Dương. Hiệp-Thiên phận sự, ngự hành chung đồng Thanh-Bộ Cung tụ, Bắc-Cù Lư-Châu. Về Đạo-thể áo Khai-dương đóng 5 nút màu đỏ, hình vuông 3 phân, trên bâu một nút 1 phân hình tròn màu đỏ, áo viền tùy tước Cửu-Trùng, lúp màu tùy Cung, thước tấc tùy tước, Đạo-Hữu lúp màu lấy Cung-Bích làm phận; lúp Đơn, Thường, Đại, Tiểu thước tấc, phẩm Lễ-Sanh, Lúp trắng thường hành 6 tấc theo Cửu-Trùng, không mang chữ lúp.

Về Đạo-Cô Đạo-Hữu từ đây lúp màu tùng Bích, lúp Đơn, Thường-phục, thể Huệ-Bộ đây.

TRÂM, con nghe Mẹ dạy: Giám-Sanh tùy Tước-vị; Lễ-Sanh là: áo Đại-phục tay 7 tấc, áo Đơn, Thường tay 5 tấc; nhưng áo, xiêm, không có viền, là Vị-danh vừa vượng tướng, lúp trỗi Ni-cô 55 phân, có hữu danh bộ phận là Đạo-Ni-quang.

Về Đồng-Nhi, Ấm-Sanh, Khóa-Sanh lúp trắng hình ngang, gọi Hạnh-Cô-ni có Bộ-phận; Lúp Đạo-Cô-quang dài 5 tấc, Hạnh-Cô-ni cũng 5 tấc, lúp Đơn, Thường-phục Giám-Sanh lằn con 5 phân; từ Khóa-Sanh trở lại 45 ly, do màu Bích-cung làm chủ, Nhi-Đồng Đạo-Hữu.

Về Dung-Bộ: Thư-Hiền-Hảo, áo Khai-dương 18 nút 1 phân, hình vuông màu trắng, trên bâu một nút 1 phân hình tròn màu xanh; áo Đại, Tiểu, Thường, Đơn, thước tấc tùy cấp phẩm Thiên-tước, không mở đinh, trôn; Lúp Đại, Tiểu, Thường màu tím, thước tấc tùy tước, Đạo-Hữu tùy Lễ-Sanh, Lúp Ngũ-cung của Thư-Hiền-Hảo Phước-Thần, Đạo-Hữu kiểu cách phân tấc dài, lúp viền tùy Lễ-Sanh, Giám-Sanh dài 55 phân, con viền 5 phân, Khóa-Sanh trở lại dài 5 tấc, con viền 45 ly; Đạo-Hữu, Nhi-Đồng lúp lấy Cung-Bích làm phận, lúp nầy gọi Đạo-Ni-quang, kiểu Ni-cô, mang chữ lúp tùy tước Cửu-Trùng, Đạo-Hữu Nhi-Đồng không mang chữ lúp, Giám-Sanh mang chữ KHIÊM, thòng dài 15 phân, chữ tròn 3 phân; Khóa-Sanh, Ấm-Sanh mang chữ HẠNH 3 phân thòng dài 2 tấc; Đạo-Hữu, Nhi-Đồng không mang chữ lúp.

Về áo viền, Ấm-Sanh viền một lằn tay áo 3 ly màu tím, Khóa-Sanh hai lằn, Giám-Sanh ba lằn màu tím. Lễ-Sanh một lằn 1 phân màu vàng, Giáo-Hữu hai lằn, Giáo-Sư ba lằn, Phối-Sư bốn lằn, Chánh-Phối-Sư năm lằn; đây là Dung-Bộ. Nhi-Đồng Đạo-Hữu không viền. Về xiêm vàng viền đen, viền một lằn ngang trên 8 phân, tám lá. Tường-Thanh-hảo kiết của Dung-Bộ gọi lúp thường hành Đạo-phận, lúp trắng Hảo-kiết 9 màu mỗi màu 3 phân, tượng cung phận chánh tim, sắp chiều yến xoa thể như Đạo-Cô vậy. Đạo-Hữu lúp Cung-Bích gọi phận, không mang chữ lúp, mang chữ Yểm-Linh Giác-Tự 7 phân, Huệ-Bộ mang hai chữ HUỆ BỘ màu đỏ, chữ nho, Dung-Bộ mang hai chữ ĐIỂM TUYẾT chữ đen. Dây Bích-bửu-nhung-khia-phược-thằng 9 màu, trước: Bích, Quỳnh, Diêu, Liên, Quế, Ngân, Nghê, Lục, Thạch; hình dài nhung nầy 8 tấc, ngang trên 4 phân, dưới 8 phân, liên chuỗi 2 tấc, trải rời 6 tấc, gồm là Bát-Tuyết tề lương. Mang Yểm-giác Tâm-quang-tử, bằng kiếng Thủy-hào Châu lộ hình tròn 18 phân, chữ đính hậu lộ ẩn 12 phân chữ Nho. Thể cách Châu-Thiệm-hảo chữ màu đỏ, Châu-Thắng-hảo chữ màu xanh, Châu-Ngưu-hảo chữ màu vàng, Châu-Lư-hảo chữ màu hồng, Châu-Trung-hảo chữ màu tím. Ngoài bìa Yểm-giác-tâm-quang nầy bọc một lằn vải 15 phân, bông hình chơn rít tròn màu nghê-rán, chữ Tâm-tử đề như vầy: Châu-Thiệm tiền chữ TRINH, hậu chữ TÍN; Châu-Thắng tiền chữ CÔNG, hậu chữ NGÔN; Châu-Ngưu tiền chữ DUNG, hậu chữ HẠNH; Châu-Lư tiền chữ NHƠN, hậu chữ NGHĨA; Châu-Trung tiền chữ HÒA, hậu chữ PHƯƠNG.

Dây Ngọc-đái Tuệ-đai, 1 màu 1 phân, 5 màu 5 Châu, Châu-Thiệm-hảo Ngọc-đái màu đỏ, Châu-Thắng dây màu xanh, Châu-Ngưu dây màu vàng, Châu-Lư dây màu hồng, Châu-Trung-hảo dây màu tím. Dây nầy hình ngang 18 phân, dài tùy thân mỗi trẻ, Thường-hành Đạo-phục mỗi trẻ có dây Bạch-tuyết Tuệ-đai bình thân diệu dụng, dây nầy hình ngang 8 phân, dài tùy thân mỗi trẻ, màu trắng.

Về Hành-lễ:

- Châu-Thiệm an bình khuôn-mẫu giúp việc Cửu-Cung Tri-phong Hộ-thể.
- Châu-Thắng an hòa khuôn-mẫu giúp việc Cửu-Viện Tri-phong Hộ-mạng.
- Châu-Ngưu an thông khuôn-mẫu, Hóa-trí Huấn-truyền Thành-thanh Khương-dục.
- Châu-Lư an quảng khuôn-mẫu, Hóa-đức Dĩ-nhân, Tân-dân Giao-tiếp.
- Châu-Trung-dung-hảo, Định-yên phẩm-giá, Lễ-tín Ngưỡng-quang, Phụng-hành Đáo-vật.

Thư-Hiền-Hảo có 5 châu, mỗi châu có 25 tiết.

Châu-Thiệm Tiết: 1. Liên, 2. Lương, 3. Thiền, 4. Hoàng, 5. Quế, 6. Hồng, 7. Tuyền, 8. Diệu, 9. Huệ, 10. Quang, 11. Trang, 12. Trí, 13. Liệt, 14. Kiện, 15. Thiện, 16. Tuyến, 17. Yến, 18. Huyền, 19. Hiền, 20. Ngọc, 21. Thanh, 22. Nghê, 23. Tín, 24. Ngân, 25. Hà.

Châu-Thắng Tiết: 1. Trương, 2. Khương, 3. Ninh, 4. Khánh, 5. Khai, 6. Khôi, 7. Mỹ, 8. Chơn, 9. Tuấn, 10. Khiết, 11. Kiết, 12. Bình, 13. Lô, 14. Đào, 15. Hoa, 16. Ca, 17. Hòa, 18. Oanh, 19. Thành, 20. Ánh, 21. Chiếu, 22. Chiêu, 23. Hiển, 24. Lâm, 25. Khâm.

Châu-Ngưu về Tiết: 1. Tràng, 2. Diêu, 3. Thạch, 4. Hắc, 5. Hoát, 6. Kế, 7. Lai, 8. Hồi, 9. Yên, 10. Kiên, 11. Hiếu, 12. Anh, 13. Bửu, 14. Ân, 15. Nghĩa, 16. Lễ, 17. Tịnh, 18. Thinh, 19. Dinh, 20. Bích, 21. Đồng, 22. Ấu, 23. Triêu, 24. Khiếu, 25. Tịch.

Về Châu-Lư-Hảo, Tiết: 1. Kim, 2. Châu, 3. Phụng, 4.Thơ, 5. Sanh, 6. Thu, 7. Thủy, 8. Sơ, 9. Thái, 10. Thích, 11. Tha, 12. Nhân, 13. Hoài, 14. Kiến, 15. Tường, 16. Tiên, 17. Duyên, 18. Vệ, 19. Thánh, 20. Thân, 21. Ký, 22. Hương, 23. Thủ, 24. Ứng, 25. Dụng.

Châu-Trung-hảo, Tiết: 1. Mai, 2. Lang, 3. Lệ, 4. Túy, 5. Nhụy, 6. Huy, 7. Sứ, 8. Bồ, 9. Hạnh, 10. Liễu, 11. Uyên, 12. Yếu, 13. Minh, 14. Tín, 15. Danh, 16. Xích, 17. Lục, 18. Bạch, 19. Quỳnh, 20. Ngâu, 21. Tân, 22. Dân, 23. Đức, 24. Hải, 25. Thúy.

Về sự hành phận, Đơn-lễ mặc Đơn-phục, lúp 5 cung áo gắn chữ Yểm-tự, tay 5 tấc, Thường-lễ mặc Thường-phục áo tay rộng 5 tấc có viền, lúp màu tím, mang xiêm; Tiểu-lễ mặc Tiểu-phục áo rộng tay 7 tấc, có viền đội lúp màu mang Yểm-giác-tâm-quang-tử, đeo Ngọc-đái lúp Đại-phục màu tím, đội Tường-thanh-hảo-kiết, trên Tường-thanh-hảo-kiết có gắn 4 chữ: Thư, Hiền, Hảo, Hiệp. Trên mình Tường-liên-thanh-hảo, chữ này 5 phân bằng kiếng lộ Thủy-hào, chữ đính hậu màu xanh, dây Lạc-Hảo-phong hình dài tùy tước thể lúp Đại-phục để hành Đại-lễ. Thư-Hiền-Hảo Dung-Bộ không có đội Mão; về dây Nhung-khoa Đảnh, Hành-lễ đồng có mang vào bàn tay mặt.

Chào Cửu-Tý Thiên-Chơn, bài nầy Nam-Công đọc trước giờ Đạo-học nơi Nữ-Oa Liên-Điện Cao-Cấp Bộ-Nguyên, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật, cẩn hậu lưu hành, Diệu-pháp chơn-truyền thiện-giáo.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đây về phẩm vị Thiên-Phong

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 8 tháng 7 Kỷ-Hợi 1959 (1 giờ chiều.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Sắc điểm phê trạch trí tài
HOÀNG thành mối Đạo hiện là đây
ĐẠI-ân Trời xá con trần thế
ĐẾ Khuyết vun bồi rạng rỡ thay.

Thầy mừng mỗi con, chung con định tâm vưng nghe Thầy dạy ban lý luật đặng chung con vẹn chí học hành, về Hội-Thánh chỉnh điều qui-pháp đó.

THẠCH, con nghe Thầy ban dạy: Đại-Thiên-Phong Thầy đã ban lời giáo chỉ Chơn-thể vẹn rồi. Đây về phẩm vị Thiên-Phong, Thầy giáo đây con Ta thấu đạt. Về thẻ áo gọi phẩm-cấp rạng hành, thanh thanh sứ-dụ:

+ Chánh-Phối-Sư: thẻ áo 12 lớp, dài 81 phân.
+ Phối-Sư: 9 lớp, 72 phân.
+ Giáo-Sư: 6 lớp, 63 phân.
+ Giáo-Hữu: 3 lớp, 54 phân.
+ Lễ-Sanh: 1 lớp, 5 tấc.
+ Đạo-Hữu: 1 lớp, 45 phân.

Đây là Phẩm-vị Thanh-nhân gồm trong số 9 Tinh-thần hoán qui, Cửu-thông ứng dụng trì duy, sau thì Cửu-tích tri thùy Đạo-tâm; Đạo qui bán-cửu Năm-hằng, đây là khuôn-mẫu phương châm diệu hành.

Từ đây:

Lễ-Sanh khăn cấp gọi phái màu, khăn Tam-thanh phải sắm do Thời-luật-pháp, nhưng: 5 lớp chữ Nhơn gọi: Chấp-trung Lễ độ Năm-hằng; Tín, Trung, Nhơn, Nghĩa, Trí hoằng Đạo thông.

Giáo-Hữu 3 lớp chữ Nhơn; Tam-tài vẹn chí xuân đồng, phá mê diệt tục rặt-ròng phương-trương.

Giáo-Sư 6 lớp gọi là: Đại-Thiên-Phong lập công hoằng pháp, toan dẹp tà túc tác Lục-thông.

Phối-Sư 9 lớp chữ Nhứt; Chánh-Phối-Sư 12 chữ Nhứt. Đây là cơ vận Liêm tề, Tam-thừa Cửu-cấp phẩm đề huề thanh.

Về Bố-tử:

Chánh-Phối-Sư tỏa hình Tam-quang là: Lý Phối-thiên, Thể Phối-địa, trong Bố-tử ứng 3 vòng, gọi Hư-vô hóa thể, hình tròn 18 phân; gìn số Cửu chia ra Nhị-khí.

Từ Chánh-Phối-Sư đến Giáo-Sư đồng 18 phân hình tròn là: Hiệp khuôn hòa lý tinh-thần; Phối-Sư lộ hai vòng tròn tùy phái ứng màu là: tánh tâm tròn thể khuôn hòa; đề chữ Tam-quang là tinh-thần phối hiệp, thể dụng lương tề.

Giáo-Sư Bố-tử ứng một vòng Thái-cực là: Tinh Thần ứng Khí, là Tam-linh ứng cảm, Tam-bửu chiếu Tam-thanh, là Thái, Thượng, Ngọc đó.

Về Giáo-Hữu: Bố-tử hình vuông mẫu thuận nhơn tâm chữ Chơn là trung học.

Lễ-Sanh chữ Chánh là: Thần-thông chánh pháp vô tà.

Từ Giáo-Sư trưởng lên chung qui có đề 6 chữ: Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ; là Lục-thông Tế-pháp Đức-hóa năng truyền.

Giáo-Hữu, Lễ-Sanh hình vuông không có đề 6 chữ, nhưng cũng có ứng tượng, Giáo-Hữu 3 lằn chỉ bìa là: Tam-đạt tề biệt Tâm-điền; Lễ-Sanh 2 lằn là: Tín uy Trí độ.

Về Đạo-Hữu khăn trắng 5 lớp chữ Nhơn, áo rộng tràng vuông, tay 5 tấc, thẻ áo 1 lớp 45 phân là: Tỉnh lòng thức thiệt về chơn, Năm-hằng dò xét chánh chơn lưỡng điều; Tin, Thường chín bực đuốc khêu, Tam-tài rạng rỡ Nhẫn, Nhiêu, Hưu tuồng.

Về Phẩm-vị Cửu-Trùng từ Đại-Thiên-Phong tế hoằng đến Đạo-đồng lương Hữu, khăn Thường-hành Đạo-phục là khăn đen đội đi hành Đạo, đồng 5 lớp chữ Nhơn là vẹn, gọi rằng:

Đạo Trời dựng lại Thượng-sơ
Chung đồng võ-trụ ngày thờ thanh-nhân
Phong-luân, Mỹ-lệ, Liêm-cần
Năm-hằng, Bốn-báu tinh-thần vãng thâu.
Đây là Đạo-đức làu làu
Bớ con mỗi trẻ ráng giàu Đạo-tâm
Phong-điều Võ-thuận Tin cần
Thanh phương huấn lý Tân-dân lập trần;
Phụng thờ Năm-đức hiến dâng,
Tròn câu Sáu-nghĩa Bốn-ân hóa hoằng.

Về Ca-sa:

Thể hình cách cựu Bác-Y, tỏ ngang ứng dọc thống tri dẹp lần; bước lên một phẩm bớt 3 lằn, Thể đây Tam thời Cửu-chuyển, Ca-sa Chánh-Phối-Sư 18 lằn, Phối-Sư 21 lằn, Giáo-Sư 24 lằn, Giáo-Hữu 27 lằn, Lễ-Sanh 30 lằn.

Phận con người bốn bề ba mối, Chỗ mười phương ngang dọc khối ràng; Thọ Thiên-ân ứng đó dọc ngang, Giảm trừ sửa đổi bớt ngang dọc mòn. Trong ba phái Ngọc, Thái, Thượng, Tam-thanh Thân Mạng, vẹn tu-tề tỏ rạng Bửu-Linh; Hòa-trung Tam-húy giữ gìn, nêu cao khí-tượng ngày xinh mỗi ngày. Hiển nay Thánh-luật hay hay, Chỉnh-điều ứng dụng dò đây bớ trò.

Về Giáo-Hữu lưu lai áo vuông gọi Tiền-y-kích là: Còn chấp vãng tâm thông học vấn, Chánh-chơn Đạo học Khải-thông Khôn Huỳnh; Noi hành tân pháp thống truyền, Khôn hòa Càn ứng Hiệp-quang Xương-bình.

THI

Đạo Luật Thầy phê trẻ vẹn hành
Đức hoằng tế thế khá dò thanh
Pháp-luân Thường-chuyển thân đâu cũ
Lý, Thể trắng trong Tánh, Mạng lành.

MƯU, bài nầy đọc trước giờ Đạo học nơi lớp Diệu-Lý Tinh-Thần, Vô-Vi Diệu-Linh Thánh-Điện, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Bài nầy nêu vào Thánh-Luật Chơn-Truyền tế hậu.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Trị-Đàn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 18 tháng 7 Kỷ-Hợi 1959 (1 giờ khuya.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Sắc sứ phê chấm chọn hiền
HOÀNG-đồ khai mở cuộc Trung-thiên
ĐẠI-thành Thánh-Luật nguồn Chơn-giáo
ĐẾ Giáng lập trần cương-kỷ thiền.

HIẾU, con nghe Thầy dạy. Con vưng lịnh soạn Đạo-phục Trị-Đàn, đây tròn sứ mạng, đó trẻ rạng danh nêu. Mừng thay! con trẻ tâm-lý đủ đầy, đề nhơn vụ đuốc khêu nơi Thánh-Luật.

Về phận sự Trị-Đàn: khăn Đại, Tiểu-phục; Đơn, Thường-phục tùy tước Cửu-Trùng, đây là Thiên-tước Lễ-nghi, quang minh trật tự, trí tri thông hành; Mão tùy tước là Thánh gia Tín mạo ung dung, Mão khăn nghi tín tường trong sáng ngoài; Mão là lễ thọ tiền khôi phục, đội Mão là tập tục thuần phong; Thể nhu tướng cảm từ lòng, qui khôi Tam-bửu Khải-thông Ba-giềng. Khăn Đạo lễ thường hành là khăn đen đội đi hành Đạo gọi Thỉ cân Đạo-phục tin thường, tu du bất lãng phụng dưng Năm-hằng, là 5 lớp chữ Nhơn; Đạo người giềng-mối Năm-hằng, trọn tròn phục vụ ngày tăng nhựt kỳ.

1. là: Nhơn gọi Đạo, Đạo thể Chơn-Lý, Chơn-Lý là Trời, Trời Háo-sanh vô sát là Nhơn.

2. là: Nghĩa là Đức, Đức tượng biến hóa, biến trưởng hóa dưỡng dục là Đất, Đất vận chuyển năng truyền thoại mỹ là nghĩa vụ.

3. là: Lễ là Lý, Lý thể tánh đức, tánh đức là người, Người lễ độ diệu-hành là nhơn thanh phẩm giá liêm khiết vị tha là Lễ đó.

4. là: Trí là Pháp, Môn pháp thể qui mô chuẩn thằng, Qui-mô chuẩn thằng là trật tự của phương viên, viên lập trần thanh cương-kỷ, do trí-tri cách-vật Liêm cần thanh chánh, là bình hòa đồng linh đẳng, gọi tinh-thần tấn hóa thường-thức sanh giác, sanh là Trí.

5. là: Tín gọi trung hòa, Trung kính Dung Hòa huyền thứ, gọi âm dương ký tế hóa sanh, Công-bình luật chuyển, về người cần chủ định tâm thông, tâm thông xử cư ròng uy tín, là nhơn lương tất lập gồm là Đạo, Pháp, Lý, Đức, Công gọi Bát-chánh trứ chơn hóa hoằng muôn mối, người phụng Trời thể thay Trời là người khai Đạo, Đạo là trật tự đó, Áo Khai-dương là Huỳnh lương Đảo khải đồ huờn Thiên; áo đóng 5 nút, mỗi nút 3 phân màu xanh là: Đạo khai khiếu suốt thông tích cực; Tiên, Hậu-Thiên thước mực thẳng ngay; tâm tròn thể nút mở gài, chốt then gìn giữ giồi mài Năm chơn; màu xanh thuộc Mộc Đạo nhơn, Nhơn thanh can phế cao-sơn trị tà; trên bâu một nút 1 phân màu đỏ hình vuông, Đỏ là: Tâm huyết chí thành Không-hư hòa khí điền khuôn trí tài; hình vuông bốn đức hoằng khai, Bâu là tiêu cực tích khai tinh-thần; thể hình Bát-Quái Thu Xuân, lập thành Đông Hạ người tuân mạng Trời; Áo Đơn-phục để hành Đơn-lễ, mang bốn chữ Thần-quang-linh-tự, là KHÁNH-BAN TRỊ-ĐÀN, mang hình ngang hiệp với cửa nút áo tượng hình Chí-công Chí-chánh thể vô-tà vô-tư, chữ 7 phân màu tùy phái, nếu con nào chưa thọ Thiên-tước thì chữ màu vàng, gọi nhơn phẩm Trung-Ương, Huỳnh-huyền khai Đạo, chữ 7 phân là: tiền tri thất giác huệ quang, Diệu-hành chung-thỉ vén màn hòa lương. Phận Khánh-Ban Trị-Đàn là: Khánh lành mạnh an bình tốt tươi nghi tiết giao thông lý nghĩa lễ độ tường hản chấn hưng tâm lý là Khánh đó. Ban là một liên đoàn trong đoàn thể đó. Trị-Đàn, Trị là hành-lập, thành-lập, tự-lập tường uy tín bình nghi phẩm, hữu quyền trị biệt suốt thông; Đàn là ký chú nội ngoại, trang nghiêm huy hoàng hạ cố, chước tính mục đề, nấu nung Lý Thể dụng chánh chơn liêm khiết, gồm lại là Liên-đoàn lành mạnh tinh-thần tôn nghiêm trật tự, đủ Tín uy năng truyền ý chí mỹ thiện, thung dung nhiệm mầu là Đạo đó.

THI

HIẾU, trẻ nêu danh tiếng Sĩ Tài
Khải-thông trật tự kể từ nay
Huy hoàng Thánh-Luật tường nhơn phẩm
Ứng dụng lưu hành trật tự đây.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Mẹ nay kiêm lý giáo đời, lập trần thuần mỹ con ôi Mẹ chờ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 8 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ tối.

---------o0o---------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ kiệt thư anh chí vá Trời
OA thanh rạng rạng sáng năm nơi
KIÊM toàn Bát-bửu thuần Tam-bửu
MẪU Tử tao phùng Diêu-Điện ngời.

NGÂM

Nữ-lưu phận gái kiền-thiền,
Danh nhân Phật-tánh mối-giềng tuyết khiêm.

Bớ con trẻ Nữ-lưu anh-tuấn, năm trẻ thơ hữu phận thuận thời; Mẹ nay kiêm lý giáo đời, lập trần thuần mỹ con ôi Mẹ chờ. NĂM với CHO, NẾT trò NỐI, PHƯỚC; ráng dò chơn kịp bước về ngôi; Thể tường chiếu sáng trên Đời, Cửu-châu lý ứng thuận thời Năm-châu. Trong số Cửu tượng màu năm sắc, gọi năm Cung sắp đặt hậu tiền; Tứ-Đại Bộ-Châu huyền thanh bạch, gồm bốn phương phân tách năm nơi; Ngũ-trung vận chuyển thuận thời, biến hình bát-tuyết chia rời màu da. Đoài Kim-Khuyết nguy nguy tạ trạch, do hành Kim dụng bạch khai tiền; Tây Bắc Âu huỳnh dụ đây tiền, hoàng thăng tiền hóa gọi Kim khai đề. Đông-Nam-Á tu tề tồn xích, Người gần Trời do biết thần nghi; Gọi rằng Xích-Đạo nhiệt thì, tiền âu Dương chấn hậu tri lập thời; Thiên-sơn độn Địa-kỳ vận bỉ, Thiên-thời quang cơ trí thanh phù; Thiên Địa bỉ cuộc vận tượng nghi, Càn thanh Khôn thuận Vô-Vi Vũ-hoàn. Trắng là không, màu là có; có rồi không, không mới có, không ứng tài, có cảm tượng, tượng sanh đây, từ biến khí; Tứ-Châu Đại-Bộ gồm cả võ-trụ đề hữu dụng, ứng biến năm màu, gồm là Cửu-cấp phù vinh, bán cửu tường chơn chấp ngũ, hữu dụng tỉ lệ thể màu, âm u ngụ ánh dương minh là luân chuyển, Trung-Ương thể trụ, gọi bán cửu huyền biến mới hóa là Xanh, Đỏ; Xanh thuộc Mộc, Đỏ thuộc Hỏa; Mộc sanh Hỏa loài người hữu dụng, người thanh nhân tâm hữu tích lương; Hỏa khắc Mộc biến chuyển tang thương, Mộc năng sanh Hỏa người tâm nương thời. Vàng với Tím kế nơi Kinh dĩ, Huỳnh Thổ sanh tím ấy ngôi thần, Trung-Ương thể dụ huyền ân, Trung Huỳnh hóa Đạo tinh-thần Tím trung. Mối Vô-Vi hòa chung lý tưởng, Tím hòa chi đấu lượng thăng bình; Tâm hòa Tánh hiệp Ý xinh, Đỏ Đen Vàng vũ màu Xanh giác cần. Màu Xanh Đen đó là màu Lục, trụ Huyền-Năng Hồng trí Hắc nhân; xét trong do tánh nghĩa cần, Tánh thông Thiên-đức minh trưng rạng ngời, Nhân là bất sát thuận thời, Nhơn hòa do chỗ ta người nhường nhau. Chữ Liên-châu nêu cao võ-trụ, gồm thế-gian qui-củ Hà-Đồ; Lạc-Thơ thanh ứng bày phô huy hoàng. Chữ Cửu gọi khai đàng trăm mối, gồm thỉ-chung gốc cội tồn vong; đặt đề điểm đến ngoài trong, dầu cho Lý Thể cũng đồng chính qui. Hòa trung dụ Đạo qui bán cửu, gọi Trung-hòa hản hựu trước sau; trước đếm một thanh cao bay bổng, đến Ngôi-Hai lực dõng Huyền-quang; Ba là vận chuyển thời gian, Bốn thôn hòa lợi lặng an thọ tồn. Huỳnh chỉ Địa gọi là bán cửu, Xanh đậm đây sở hữu tướng Vàng, trung-bình thấu hản Huỳnh cang, cứng mềm cao trũng rõ ràng phẩm nghi, Gọi Huyền-Năng chữ qui tượng Đạo, Chánh-chơn hòa linh thứu nhơn xuân; Thu thì chỗ biến gia gia, nửa cân tám lạng cộng hòa chủ qui. Nầy nầy năm trẻ giờ đây, Mẹ mừng hữu phận vưng nghe tiếng đầu.

Đèn Cửu-Liên-Châu Mẹ phân giải đó con.

THI

Cửu-Liên-Châu chiếu khắp Hoàn-dinh
Tam-thập Tam-thiên cả Lục-huỳnh
Ngũ-khí Ngũ-hành hòa Ngũ-đẳng,
Nhứt Thiên, Nhứt Địa hiệp Nhứt-tin.

Vậy giờ nầy Mẹ mừng năm trẻ, là hữu danh lưu hậu Thánh-Luật kế lai, Nữ-tài cần nhân nghĩa xứng vị đáng trang, tác thành vào Ngọc-bảng đó.

Chào Nam-Công, trình Hỏa-Đức; bài nầy mừng Thiên-Chơn đọc trước giờ Đạo-học Cao-Cấp Nữ-Oa trong đó đồng chung nghe xét lý, giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung, rồi nêu vào Thánh-Luật lưu hậu kế truyền.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo Trời Bổn-nguyên khuôn-mẫu Thánh-Luật qui mô, cơ Thống-nhứt Phái Chi, Qui-nguyên Giáo-lý về một

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 8 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Lịnh ban hành luật Chí-công
HOÀNG-đồ Thánh-đức trắng rồi trong
ĐẠI-ân xá thế danh Nhơn-hậu
ĐẾ Chủ Càn Khôn một pháp đồng.

Nầy chung mỗi con, vưng nghe Thầy ban lời dạy chỉ, chung nhau mỗi trẻ dò đây cho rõ, tròn lý do Đạo Trời Bổn-nguyên khuôn-mẫu Thánh-Luật qui mô, cơ Thống-nhứt Phái Chi, Qui-nguyên Giáo-lý về một, thì hữu vị phẩm danh cho mỗi trẻ, trong ngoài trọng trách diệu-hành gọi thế Thiên hành hóa dụ, Nay đến thời kỳ Đạo Trời khai mở tái dựng Thượng-Nguơn, đến đây là luật chuyển thống huờn, mỗi con vưng nghe cho châu đáo, về trong khuôn kỷ, muốn dìu dẫn Nhơn-sanh, phải có Đầu-Sư Thiên-Thể giáo dụ làm đầu, đặng đem lý do của Thầy giáo truyền tế chẩn, về Ngoại-tướng cần có nhiệm phận điếu giao, cho rạng rõ Đạo-mầu tiếp giao liên lạc với Phái, Chi cùng Tôn-giáo, tròn thể khuôn-mẫu đức. Vậy Thầy bình phán phê đây định sắp lập thêm Đầu-Sư Ngoại-Tướng, là Tam-thập-lục Bảo-Đức, để giao liên với mỗi Tôn-giáo Phái Chi, dùng Đạo-mầu nưng cao lý thiệt điều an, chỉnh lại Thống-nhứt Qui-nguyên nên tròn danh lành Đại-Đạo, trong 36 phẩm này, khác phẩm chớ Thể phận Dụng y, đó là về một, lý nguyên hình Đạo-Tướng.

Áo Khai-dương mở đinh trôn thể như Đầu-Sư vậy, đóng 12 nút tròn màu trắng 3 phân, trên bâu đóng một nút hình tròn màu đỏ 1 phân. Xiêm 8 lá lệ thường Thầy có dạy rồi, viền màu vàng là Nho-Tông chuyển thế lập trần, viền xuôi 3 phân, ngang 5 phân, viền 5 lá, chừa 3 lá, Thầy có dạy rồi là Tam-tài thể dụ, gìn giữ Ngũ-luân bồi bổ rặt in rạng màu.

Về Mão cốt: Mão 18 phân hình cao, tròn lớn nhỏ tùy khuôn, tượng dụng Bát-bửu, ngạch cao nổi 3 từng, màu đỏ trên, vàng giữa, xanh dưới, sau là Tiên-thiên khí quang, ứng chuyển huờn khí thành chơn. Về thẻ Mão, thẻ cao 4 tấc 4 thẻ, thấp 4 thẻ là 35 phân, gọi Tứ-phương sự lý, Tứ-hướng hoằng lương, phụng Thiên thừa hành tế vận, thẻ Mão màu đỏ Tâm-nhãn, hoa mạo màu vàng, thẻ bầu chót hình tụ đảnh, có gắn hình Tâm-nhãn khuôn thể thận tùy; về hoa mạo tạo mai trước hoặc hoa lê là đủ; về ngạch Mão chánh tim cao 21 phân, rồi uốn hình Dương-liễu tồn 12 phân, chót ngạch từng đỏ, Tâm-nhãn vàng, trung tim ngạch màu vàng gắn chữ BẢO màu xanh, từng sau màu xanh gắn chữ ĐỨC màu đỏ, dầu tiền hậu Mão ngạch thể phân tấc kiểu cách đồng y; mình Mão chung qui, thẻ thòng đồng màu đỏ, Tâm-nhãn hoa trước màu vàng, trên chót Mão tạo Bát-đảnh Tuấn-quan, tiếng gọi Đạo-tuấn-khôi, về hoa kỳ Tâm-nhãn lớn nhỏ tùy khuôn viên phận,

Về Khăn đen đội hành Đạo 15 lớp chữ Nhơn, là Đại-nhơn Thập-Ngũ Linh-Huyền Bảo-Đức, khăn Tam-bửu 15 lớp chữ Nhơn là Tam-huê Tụ-đảnh, khai thế đáo ứng Tu-Di, là Đạo-mầu Thượng học, Khăn Đại-phục toàn màu đỏ, chữ Nhơn là Đại-Thiên-phong Đại-nhơn dẫn lối, vào lễ chầu sớm tối thề y.

Về chữ Yểm-Linh Huệ-tự bốn chữ: . . . . . . . Bảo-Đức, chữ phận nào toàn màu đỏ là: Tông-Nho chuyển thế khai khiếu độ Linh, lập trần Thánh-đức khiếu minh bình hòa.

Áo viền tay, cổ màu xanh một lằn 3 phân, ngoài một lằn 1 phân, trong năm lằn 1 phân, sắp liền. Mão màu đỏ, Phụng-Thiên thừa mạng lập nền nhân, dựng toản đức bền cao, áo viền xanh Tiên cốt rạng màu, Xiêm viền vàng là Nhựt-tăng giác trược làu làu bình qui.

Ca-sa màu xanh là hành pháp lập củ-qui Ngoại-giao điếu dụ, viền 15 lằn vàng, là Tam-ngũ thiền qui, mình trong lót đỏ là tâm tri phục bình.

Về Bố-tử màu vàng để liền, hình tròn 21 phân, chữ 15 phân, chữ nho màu đỏ chữ ĐỨC, vẽ 3 lằn Vô-Vi ngoài chữ, 5 ly mỗi lằn thẻ áo màu vàng thể lớp Đầu-Sư.

Về Đãnh, Hành-lễ; Đơn, Thường, Tiểu, Đại-lễ, do lý giáo an hành dụ là Đơn, Thường, Tiểu, Đại-phục đây toàn dụng từ Hội-Thánh, Thiên-Lý, Thiên-Thể, Thiên-Mạng, Cung, Viện chung qui Thiên-chức Đạo-đồng, hòa Đồng-Nhi, Nhi-Đồng, Ấu thọ, khi Đãnh-lễ, Hành-lễ nơi nơi, Tòa-Thánh, Thánh-thất, Linh-Đàn, Tràng-Qui hoặc Tư-gia, phải sắm choàng chơn, Tỷ túc kiêm bế, thế Tỷ này choàng cả chơn-nan, khéo kín gọi Khiêm-Tịch; hình cao lớn gồm cả ống chơn, nhưng Nam-phái xếp chung qui nổi lên cao 15 ly 12 lằn, Khiêm-Tịch này chót hướng Nam về tả, Nữ về hữu; Nữ 9 lằn, cột dây hay gài nút tùy phận, nhưng cửa mở phía tiền trung cảnh thân nhân là châu đáo, Đây là tinh thượng thể thân, trắng trong như lọc bộc thân na hài, là đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo học nơi Diệu-Linh Thánh-Điện, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giáo-dụ lề lối phương trương Đạo-mầu Bổn-nhứt Qui-nguyên đề huề Thỉ-đức

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 8 Kỷ-Hợi 1959 (1 giờ chiều)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng suốt thay bớ trẻ trò
HOÀNG thành Thiên-giáo khá cần lo
THƯỢNG-lưu nhìn xét nầy đây phận
ĐẾ Chủ Càn Khôn có một lò.

Thầy các con, mỗi con vưng nghe Thầy ban lời Giáo-dụ lề lối phương trương Đạo-mầu Bổn-nhứt Qui-nguyên đề huề Thỉ-đức đây chung con trẻ. Vậy đến đây cần có mỗi con hòa thân vào Đạo liên hiệp cận kề, với Phái Chi Tôn-giáo, đặng Công-đồng tâm lý đức chơn, tài trực huyền dụng hòa đồng mẫu-khuôn Đất Trời định lập bình an chung võ-trụ thống hiệp nhân-loại cõi thế-gian, dùng Tinh-thần Đạo-pháp cứu cánh muôn linh buổi hồi Thiên-điều Đại ân xá thế lập trần Chánh-qui Thánh-đức. Cương-kỷ rạng ngời, là Tam-Hoàng chí dụ đó.

Vậy phận sự Hội-Thánh Ngoại-Giao có Tánh-đức Nội-hòa Cảm-giác do Lịnh Mạng mẫu-khuôn chỉnh điều phê phán dâng dạ thừa hành là lý do trọng trách. 36 phẩm Bảo-Đức Nội-lệ, hệ thống bởi Giáo-Tông lề lối, Giáo-Tông vưng mạng lịnh Trời, liên hiệp với Hội-Thánh chỉ thị Huấn-truyền là Thiên-dụ, trọn quyền dùng Đức-hóa năng truyền điều động nhơn-sanh hướng theo phong-thuần mỹ-tục, phải hiểu biết trên cõi trần điều Đạo-đức lẽ chánh chơn, chửng thằng Lý Pháp Đạo, cần thông thuộc chỗ Bổn-nhứt của Tôn-giáo cùng các từng lớp Thiện-đoàn đặng dễ bề giáo truyền phô bày lý do Đạo Trời Cứu-Thế đó, bởi thế cần có Tam-Thập-Lục Bảo-Đức với Tứ-Bửu thông cơ, cùng Thập-Nhị Nguyệt-Tướng mới thâu vãng Đạo-mầu rồi phổ biến.

36 phẩm Bảo-Đức phận sự kể nêu đây:

1. Chơn-Pháp Bảo-Đức.
2. Chơn-Lý Bảo-Đức.
3. Chơn-Đạo Bảo-Đức.
4. Chiếu-Minh Bảo-Đức.
5. Tịch-Lý Bảo-Đức.
6. Tây-Tông Bảo-Đức.
7. Tiên-Thiên Bảo-Đức.
8. Trung-Hòa Bảo-Đức.
9. Hội-Giáo Bảo-Đức.
10. Bạch-Y Bảo-Đức.
11. Liên-Hòa Bảo-Đức.
12. Chỉnh-Đạo Hiệp-Nhứt.
13. Liên-Đoàn Bảo-Đức.
14. Hiệp-Nhứt Bảo-Đức.
15. Qui-Nhứt Bảo-Đức.
16. Thống-Nhứt Bảo-Đức.
17. Qui-Thống Bảo-Đức.
18. Duy-nhứt Bảo-đức;
19. Truyền-Giáo Bảo-Đức.
20. Đại-Đồng Bảo-Đức.
21. Nguyên-Bản Bảo-Đức.
22. Tầm-Nguyên Bảo-Đức.
23. Minh-Khai Bảo-Đức.
24. Thống-Nguyên Bảo-Đức.
25. Chí-Trung Bảo-Đức.
26. Thích-Từ Bảo-Đức.
27. Công-Lý Bảo-Đức.
28. Đạo-Ái Bảo-Đức.
29. Nho-Nhân Bảo-Đức.
30. Thần-Minh Bảo-Đức.
31. Thanh-Tài Bảo-Đức.
32. Lương-Sanh Bảo-Đức.;
33. Thiện-Trí Bảo-Đức.
34. Kỉnh-Hiếu Bảo-Đức.
35. Nghiêm-Lễ Bảo-Đức.
36. Tôn-Tín Bảo-Đức.

Trong 36 phẩm nầy phải rèn lòng Bác-ái, chữ dạ Từ-bi, xá thân rước người hòa Đạo, phải dày công xây dựng Chơn-Lý Tinh-thần, Ngoại-giao Chiêu-đãi, Lương-tài, trọn tròn vưng tuân lịnh Trời, dặt dè mẫu-khuôn Đạo Lý Pháp, phải bảo tồn căn bản Nhân-vị, chung tính thuần chơn huệ tường thống đức, đây là Thượng-Nguơn Thánh-thời đó mỗi trò trẻ.

THI

Trò Ta tu tỉnh cứu đời an
Trẻ thuận Qui-nguyên phận vén màn
Xứng đáng tôi Trời trung chánh dạ
Kiên hòa lối thiệt phước Thiên gia.

MƯU, bài nầy đọc trước giờ Đạo học nơi lớp Cao-Huấn, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao Chưởng-Quản in ra, nêu vào Thánh-Luật kế hậu roi truyền, để bảo cửu vĩnh tồn, thể chơn dụng chánh đó chung con trẻ. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Giảng giải phân tường Ngôi-vị Nữ-Oa Liên-Điện

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 9 Kỷ-Hợi 1959 (5 giờ sáng.

---------o0o---------

THỂ-LIÊNG TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ sáng dường trăng bởi có trau
LIÊNG hoa thơm nhẹ ứng đua màu
TIÊN-Cô qui hội trường Cao-đẳng
NỮ-Sĩ chấn hưng Pháp Lý giao.

NGÂM

Khép mình chào kính Nam-Công
Xin nương bút diệu Khải-thông lý mầu
Lâm Đàn mừng cả chung bầu
Từ-Hàng, Thanh-Bộ vui câu Sĩ-tài.

SÁU, em nghe Chị giảng giải phân tường Ngôi-vị Nữ-Oa Liên-Điện đây em hỡi. Phận em thơ có công soạn lý học hỏi Chị cũng mừng ban, vậy giờ đây đồng Bộ học tràng, định-tâm êm lặng nghe Hiền-Tỉ phân toàn lý do.

Về Ngôi-vị Nữ-Oa Liên-Điện, đây là trật tự của Cung, Viện, Phẩm, Ngôi, Đông-bình, Tây-quả là mai với chiều, phận người tu lấy đây nhìn làm thể dụng, Hạnh liên hòa sớm cũng như hoa thơm tho tươi tốt đây trò; Ở trần, trần trược chẳng lo lem lòng, trổ tài danh thể trắng trong, nhụy thơm thúy đượm rặt ròng danh mai; Châu toàn Sĩ-phiệt anh tài, buổi chiều kết quả vui say cảnh Trời; Quả Hoa thể tướng tỉnh đời, chưng phiêu định thức gọi khêu lòng lành.

Về giá đèn gồm hình sanh hóa, Tam-giác là luật cả hoằng sanh, chuyển luân Tam-ngũ đồng thanh, Thiên-thời Địa-lợi mối-manh Nhơn-hòa; Ba nhà ngũ Cao-Tòa xây vận, vũ-trụ nguyên tịnh động Âm Dương.

Về 9 ngọn đèn là: ánh sáng nêu lên, tượng trưng Đăng huệ là phương chỉnh đời, 1. Thái-Cực định nêu trên chủ, chủ trên là Thỉ thủ gọi Trời, 2. là cơ cuộc phân rời, Âm Dương nhị khí lập đời tường minh, thể âm chất nghĩa phương thơm nhẹ, biết vật hình sanh đẻ do Đất Trời, của Trời là giúp cho Trời, giúp Trời là phải vưng thời khí thanh, 3. trở lại 1 lập thành Đạo-tín, phận con người linh thính huy hoàng, hoằng khai tinh tấn rõ ràng đức nhơn, dùng chơn chánh nghĩa ơn xuất xử, Người sánh Trời gìn giữ Đạo-tâm, Linh hơn vạn vật phương châm, Trời sanh háo lý mầu thâm khí tường; Người cũng thể mến thương vạn vật, gọi thanh cao vuông tấc lương thuần; một là Tâm định bình quân, Ý chơn Tánh đức muôn từng không sai, bốn biến hai hình, từ đây định dụng, trước cùng sau dò đúng mối-giềng; Tam-tài Đạo phận bình-ương, Thông tường tả hữu kỷ cương bảo tồn; 5. Ba đèn sau trọn đồng bền vững, Thể Đất đây chắc vững rộng dày, Ngũ-hành đốn tiệm Tam-tài, thờ cơ Sanh-hóa thờ ngay Cửu-từng; Trên nhị cấp chuyển luân soi rọi, Nhựt Nguyệt Tinh chứng khối vãng thâu; Quân-bình gian cuộc làu làu, đây là Thể Lý một màu kết giao, Thần Khí Tinh nêu cao nhân-loại, gọi Đạo người trái phải hoàn trung, nối 3 sau đó Huỳnh-ung, Gọi là Địa-trụ chở đồng ninh phương; Trưởng Dưỡng Thành phong cương biên mạt, dục trí dục sắc giái hữu vô, quang hình quang cuộc quang đồ, ninh trường khương cửu trọn mô chiếu huỳnh.

SÁU, em nghe Chị giảng phát minh, Đạo là sanh hóa thể hình thiện phiêu, cảnh có dùng có dẫn dìu, có đây, đây có nhiều nêu vận thời; Hiệp vận thời thuận xuôi Thiên-mạng, mới bảo tồn mới hản lý không; Bớ em quảng ý Đại-đồng, đâu đâu như một một trong chỗ nầy; Gọi rằng một biến thành hai, chuyển ba lập bốn vần xây năm vầng, sanh sanh hóa hóa muôn ngàn, đều do chỗ một Càn-cang lưu hành.

Vậy SÁU Em học đây thấu lý chung hòa.

THI

Một Trời, một Đất, một nhà chung
Dẫn dắt chung nhau tránh chỗ cùng
Thương mến rộng dày thông sáng suốt
Bọc bầu nhau rún Tổ rồi Tông.

Kính Cửu-Tý Cực-Quang Thiên-Chơn Nhứt-Mạch, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp nơi Cù-Lư Quang-Cung trong đó mỗi em nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Thể-dụng, Lễ-phục Quan Y

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 19 tháng 9 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành Thầy phán trẻ nhìn trông
HOÀNG Lịnh độ an khắp Đại-đồng
THƯỢNG-đức huy hoàng nêu Nghĩa Tín
ĐẾ ân ban phước phải bồi công.

Thầy các con, mỗi con định tâm nghe Thầy chỉnh điều Thể-dụng, Lễ-phục Quan Y đây chung trẻ.

Về Mão Chưởng-Quản, cốt Mão cao 18 phân, 12 giác; là Nhị-cửu Thể-thành Lý-kỉnh gọi Âm Dương, Ngạch chiết uốn nguyệt Dương-liễu, Trung tim đảnh ngạch 12 phân, uốn Hằng-nguyệt-xoa 8 phân, chót đảnh ngạch tượng Nhãn-Tâm; kề đó, tiền đề chữ ĐẠO, hậu đề chữ CHƠN màu đỏ 10 phân, gọi Đạo Chơn mở khiếu cứu đời, Âm Dương hiệp nhứt hai ngôi Diêm-phù; cốt Mão 12 giác là: số Tam-huyền, Trời Đất Người qui truyền vận mạng, Thẻ Mão 72 phân là số Thiên Địa Khai-Tịch; Mão, Thẻ, Ngạch toàn màu vàng là: Thể Thiên-Khai Huỳnh-Đạo, 12 thẻ có gắn 12 Tâm-Nhãn trên chót màu đỏ, có tạo 12 chữ: HUYỀN QUANG CHIẾU DIỆU NGỌC ĐẾ CHỦ QUYỀN MINH ĐỨC TÂN DÂN. Tròng trắng chữ đen, Chữ đen tròng trắng: Kim sanh tiền Thủy, bông hoa lộ toàn đỏ.

Về ngạch, tiền tạo lưỡng Long hướng giao chữ Đạo, màu đỏ, kế đề hàng chữ Nho: PHỤNG HÀNH ĐẠI LỊNH VĨ ĐỨC HÓA NHƠN KHẢI THÔNG CHƠN LÝ; chữ đỏ lớn nhỏ tùy thời, tạo thể. Về ngạch hậu tạo song Phụng đỏ, giao thủ chữ Chơn, kế đó đề hàng chữ Nho y như trước; hai chữ tiền ngạch chữ ĐẠO, hậu chữ CHƠN, hình 10 phân là: Thập-toàn Công-đức đó.

Về Lạc-Thần-Phong màu vàng dài 9 tấc là: Cửu-phẩm vị thanh, ngang trên 3, dưới 6 phân, hai thẻ thòng gọi chốt then, lý gọi Long-Huyền-Phượng, thẻ này dài 12 tấc, hình ngang trên 5 phân, dưới 8 phân, gọi: dưới trên Nhân Nghĩa tu-tề, Năm-hằng Tám-báu định phê cứu đời; mỗi thẻ có tạo 4 chữ chia đồng khoản là: NHỨT TÂM THIỆN NGUYỆN VẠN THẾ DANH TỒN; thẻ vàng tròng trắng, 5 phân, chữ Nho đen 3 phân, tạo Long hình ẩn với Tòng Trước, gọi Hân-Long Tòng-Huyền Hóa-Đạo, Hoa của thẻ Long hình màu xanh, hai sợi dây cột Mão là khóa chìa Huỳnh-Đạo, mỗi sợi dài 6 tấc, lớn 15 ly. Về cốt Mão trên Tụ-đảnh Thập-nhị quan, trong 12 giác của cốt Mão đề; Hiệp-Thiên 12 chữ PHÁN màu đỏ, Cửu-Trùng 12 chữ ĐỊNH màu đen.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Sử vàng nghĩa Đạo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 10 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

Thầy các con, mỗi con trong lớp học nghe Thầy dạy.

THI

NGỌC lịnh phán phê trẻ khá tường
HOÀNG-đồ mở Hội tại Trung-Ương
Thiệm-Châu Đất Việt Rồng Tiên thuận
THƯỢNG-ĐẾ giáng lâm lập Kỷ-Cương.

Thầy mừng mỗi con, giờ đây mỗi trẻ vưng lời Thầy ban ân giáo chỉ, tỏ rõ mỗi lời, thể đinh ninh dặn bảo đây mỗi trẻ; phận Thiên-lý khai thông Thiên-thể, ráng ninh lòng can phế thiện đức mẫu gương, là mỗi trẻ nên trọng chánh thể của Đạo Trời khi thọ lãnh một phận sự Thầy sai, gọi kề vai gánh Đạo, phải đại-hùng khử bạo trừ tà tại tâm, đem Lý, Pháp nêu lên lối lề gương Đạo-đức là: đi, đứng, nằm, ngồi cần bảo toàn Hạnh Đức; dẹp mất lối tục tánh phàm, gìn giá phẩm Trời ban là: thanh danh siêu tục. Khi đi ra đàng cần gìn giữ Đạo-thể Chánh-tín, Chơn-thần; mưu lấy thiện mỹ tế đời, gọi Tài Tâm vĩ Đức. Huyền biến phổ giác đời tự tỉnh chung hưởng cảnh Đạo-đức hòa thương. Vẹn vậy, mới xứng đáng một Nhân-thanh Hữu-vị Lý, Pháp lập trường; chớ buông trôi mà lỗi phận. Diệu-Toàn-Ban La-Hán là phận sự Hiệp-Thiên, cần đoái thủ lý thanh, để gây trồng nền thanh cao Thánh-đức, phải phương trương tự lực, phải khép mình thi thực hai chữ Từ-bi, dạ trọn Bác-ái, tránh chỗ Tham Sân Si, mới mong dập tắt ngòi Tam-độc. Lý do Trời là gốc, Pháp luật nhìn mối Toàn-Năng, ăn, ở, nói thăng bằng, gọi phụng Trời là Hằng-sống, phải biết thanh cao lộng lộng, soi xét chẳng lầm, đặng dứt hết mưu thầm, Tứ-tri bảo tồn nơi thân mạng. Làm sao gương lành chói rạng, ra vẻ Đạo-đức, Giáo-lãnh, Tập-tràng, dùng lý luận bình an phổ tế, thể thoàn kìa chở khách, dòng khói vượt tách đến bến Từ-Hàng, muôn lẽ châu toàn trong ngoài đừng bôi bạc. Bớ chung con, đây là Đại Linh-căn, cần năng Tam-đạt, cho xứng trò Phổ-huấn giáo lương, đem lẽ thiệt yêu thương, kết nghĩa đồng tương đệ huynh trên võ trụ. Tiền là Qui, Hậu là Củ; con Ta rèn lòng đầy đủ nghĩa lễ độ đời xuân, chữ Từ-bi cứu thế dạ chẳng ngừng, là phương pháp nghĩa dùng ban lý sáng truyền tin cho đời hản. Trời độ tận, thế toan hối hóa hưởng Ân Thiên, phải thoát tục chí Tân-dân, toan lánh mê hoàn Minh-đức. Đạo-mầu thường thức, huyền biến thông hành, Lý Pháp Đạo rành minh thanh trên cảnh tượng. Thầy dặn ban con Ta kính tưởng, chí Đại-thành Đạo-tướng thể đồng in. Thầy cậy con Ta Nguyên-điểm Đại-Linh, trò xứng phận Khai-Huỳnh gương Xích-Đạo, phải vưng tuân toan vĩnh hảo, chữ Công-bình tròn châu đáo, Bác-ái gọi tề thân, đây là lề lối Liêm-cần gọi nhơn-viên dân Đạo-đức. Lập Thiên-Quốc Trời Nam trên mực thước, khai Hoàng-đồ nơi Việt-Quốc cảnh ánh bóng Trung-Thiên, xây Tu-Di Nam đảnh qui thuyền, Tam-huê tụ huờn nguyên, Ngũ-Chi hoàn Tứ-đức, trên Hoàn-dinh nghe tiếng chuông lành, giấc hòe tỉnh thức, rõ thấu Trời duy nhứt Chúa Cha, trống bồng thanh tiếng bổng dội xa, kêu thế tỏ đây là Trời gia ân độ tận. Phận chung con đây vưng lời Thầy dặn, phải ân cần Công-đức luyện chính với mài trau, đừng hớ hinh Linh-điểm lộn nhào. Than ôi! uổng công tu rồi trôi trễ. Con ôi! trần-ai là thẳm bể, vật chất sông sầu, cõi thế-gian muôn việc chi rồi cũng đáo đầu, do báo ứng chung qui Trời Chủ-quyền Tạo-Hóa cân cùng lượng, chữ Đạo-mầu con tròn niệm tưởng, phải tác phong gầy lại chánh tưởng lý háo sanh. Trời lá mối, mỗi trẻ là manh, nêu phong hóa phải minh anh cho thuần mỹ, đó bổn căn Nhân-vị, vẹn với tròn tề trị biệt ròng manh, lẽ phân minh mỗi trẻ học rành, học cho thuộc hành thanh sứ vụ, ban lời dặn nhủ, con Ta linh nghiệm xuất xử ký chú thấm nhiều hay. Kể từ nay, hiện giờ đây, hiển hoằng khai rạng danh Anh Tài Tâm Đức hóa. Hoan hỉ thay! con Ta ghi dạ, đã chạm lòng chung cả thực thi, Thầy đáng mừng thay!!

THI

Mừng chung lớp học khá dò chơn
Đạo-đức nguyên lưu dạ chớ sờn
Rạng rỡ danh tài tròn sĩ thượng
Lối lề Thánh-Đức dẫn dìu nhơn.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Diệu-Lý Tinh-Thần nơi Diệu-Linh Bửu-Điện, gọi Vô-Vi-Cảnh, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, ban cho Diệu-Toàn-Ban, Thánh-Ban mỗi trẻ mỗi bổn, gìn giữ rèn tâm, hòa thân trên Đạo-mạch, rồi nêu vào Thánh-Luật lai truyền, gọi Sử vàng nghĩa Đạo.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Tây-Lang Huệ-Hương-Cung

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 10 Kỷ-Hợi 1959 (11 giờ khuya.

---------o0o---------

DIÊU-TRÌ THÁNH-MẪU Giáng-Đàn.

THI

DIÊU-Điện Mẹ ly giáng tế trần
TRÌ duy Đạo-mạch quyết đền ân
THÁNH thanh ứng dụng thời khai khiếu
MẪU Tử đề huề khải nghĩa nhân.

Mừng mỗi con, mỗi con định-tâm cần lo học tập, Mẹ rất vui dạ phỉ nguyền con Ta hiền hiếu đó chung trẻ thơ; Hương-Nghiêm Nữ-Phẩm cùng Liên-Tằng Phương-Tử.

THẤT, CẢNH, TÔN, HIỆP đã dày công luận-giải lý nhiệm do lịnh mạng tế truyền nguồn ứng dụ; vậy bốn trẻ thiền tâm vưng nghe Mẹ đây chiếu điển ban ân, giãi bày Thỉ-chung mỗi con tường lãm. Nơi Tây-Lang Huệ-Hương-Cung, có lập sự ngôi-vị CỬU-CUNG PHỔ-HÓA, là ý nghĩa Chủ-giác Âm-thanh, Tịch-đoàn Kim-hành ứng dẫn, Ảnh-phụng hình cao 12 tấc, hình ngang 9 tấc, mình trắng chữ xanh, chữ 18 phân, bìa lục, hồng-quang mà Nghê, kiểu cách tùy phương hợp dụng.

Về hình thức tiết nghi, có giá đèn 5 cấp, 9 ngọn đèn, 1 lư hương, Khôn; giá đèn số 5 Tam-giác, Đông bình hoa đơm, Tây định kết quả, sự lập tùy cơ vô hữu của Thánh-Thất hay Tòa-Thánh; tiền bàn đề 4 chữ NỮ GIỚI THIỀN THÂN; tiền bàn nầy mình Liên, chữ Bích, tùy tạo; bìa Quế có Hồng-quang theo chữ Diêu màu, Ngạch muôn màu Quỳnh, hoa Thạch Ngân.

Ảnh-phụng Thánh-Thất cao 9 tấc, hình ngang 12 phân, ngôi sự đồng y.

Nghĩa là:

Nơi Kim-Khuyết khai nền Cửu-cấp, giáng lâm phàm dẫn dắt Quần-sanh; Gọi rằng phổ-hóa Nam-bình, chín màu ứng hiện đồng Tin Thiệt Thường; Dưới trên phụng sự Nương-Nương, âm thanh Nữ-tú nghĩa phương huy hoàng; Là Ảnh-phụng với tiền-bàn, trắng hình Kim Đoài quang ngưỡng tín, chữ trên xanh giác tỉnh nguồn nhân; Khắc trần thanh ứng trong ngần, nêu cao đức hóa dò lần lý do.

Đế đèn Tam-giác, 5 tấc hợp đồng, gồm: Tam-ngũ chỉ phân khai tịch, thấu Địa, Thiên, Nhân huờn bạch Ngũ-hành; Tam-tài ứng dụng rạng danh, cơ thời vận cuộc Đại-thành Nhơn-gian. Bông với trái thể toàn ngưỡng tín, pháp thanh cao luyện chính mạng tâm; Rõ ràng kết quả mầu thâm, công thành danh thoại muôn năm bảo tồn. Người tu đó giữ gìn an, lý do thế dụng rõ ràng Bổn-nguyên; Chín màu tượng thể dụng an, chấp trung kiên dụ huy hoàng sự thanh; Thế gian soi Hậu nối lành, một điều nghĩa vụ tín thành muôn Thu; Bớ con hòa Đạo gọi tu, thế đây nhìn kỹ chỗ tu phỉ nguyền; Gồm chung lý nghĩa giác-viên, sự lòng phụng lý ngưỡng huyền hoàng khai; Âm thanh Nữ-tú Sĩ-tài, Khai-Thiên Tịch-Địa rạng ngời đây con.

THI

Thể lành ánh chiếu trọn công tâm
Lý vụ thiền thân pháp vẹn tầm
Đạo-mạch tỏ tường phương lập đức
Châu toàn vĩnh-bảo hữu cao thâm.

Mừng Nam-Công, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng của Nữ-Oa Liên-Cung, đặng trong đây mỗi trẻ Cao-Cấp Sĩ-lưu nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Thánh-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 6 tháng 11 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

DIÊU-TRÌ-CUNG TÂY-PHƯƠNG VƯƠNG-MẪU Giáng.

THI

DIÊU-Điện chiếu soi khắp cõi trần
TRÌ bình võ-trụ lập đời tân
CUNG-Kinh mở cửa kêu phàm hạ
TÂY-Bộ Đoài Kim dạ hiến dâng
PHƯƠNG-Ngọc huy hoàng tuân Lịnh Mẹ
VƯƠNG-Tôn Tứ-sắc chấm Nguyên-nhân
MẪU-khuôn trao thước con Hiền-nữ
GIÁNG tại Nam-Bang trẻ hiếu thân.

Mừng con Nữ-phái; chung lớp học hiện hành, kêu gọi Tràng Nữ-Oa, Đạo-mầu Cao Thượng-đẳng. Đây là Nguyên-căn vưng nghe lời Mẹ dặn, đặng bền lòng rót cạn pháp truyền trao. Bớ trò Ta Huệ-Thiền, Thanh-Bộ; đồng ứng cảm Thiên-lý làu làu; ban truyền phổ-tế giao tin lành tức mỹ. Phận phổ-thông giáo-huấn, ráng định thần toan xét kỹ; rõ phận tròn chung-thỉ đắc thành công; ra cứu Linh tâm, chí Đại-đồng, nêu gương mẫu trắng trong Trinh-tiết Hạnh; phải Đại-hùng lập đời Đức-thánh, toan cứu nguy vai gánh Đạo Trời trao, hướng trước Tuyên-ngôn phá tục tác-túc Đạo-mầu, huyền biến dụng, thể nêu cao Chánh-qui Tin-nhứt. Nữ-lưu Thượng-trí, phải phân minh cần thi-thực mới thành công. Đạo-lý rặt ròng, tâm thông suốt, pháp thanh danh tròn đồng xứng phận; lập hạnh cho thuần, giác đời nhìn Trời xuôi vận, gọi bảo chung sanh; chí Nhẫn khiêm đức bổng gương lành, danh Tú-kiệt Đại-thành trên võ-trụ; An phẩm-vị, dạ lương-từ, Pháp-mầu qui-củ, dẹp lòng mê ký-chủ chỉnh Điều-cơ; Vậy mới xứng đáng Hiền-sĩ Nhu-thơ ra cứu khổ, hiện giờ tác phong lập trần thanh cương-kỷ; nêu chữ Nhượng, Ý thức Tân-dân tròn nhân-vị; giá phẩm cao gương sáng chiếu rọi giữa đời, thấy cùng nghe xử xong khôi tú; tránh éo le trên thể sự, màn tranh khoe màu ảnh, phận Nữ-thơ toan thọ mạng, thiện chí cần năng, tròn nhiệm-vụ chỗ đỏ, đen dạ rảnh; nêu Bốn-đức, Năm-hằng, gọi con người lằn Tinh-Kiên mực thẳng; Tam-độc trừ xong, đồ sáng suốt xuân đồng Sáu-huệ; chữ thăng bằng Đạo người không phế, nghĩa Tín Trung nêu phận Quế giữa rừng cây, vẹn đó mới hay, toàn phản tỉnh Nữ-tài tròn khắc kỷ. Hữu trọng trách giác-tha xá-vị, vượt Bảy-tình phụng húy báu rạng Tám đề danh; sớm âu toan Trinh-tiết Trung-thành, Tín-uy rạng Nữ-thanh niềm Thượng-học; Câu Hiếu, Đễ đề cao cần săn sóc; Lễ, Nghĩa lành thận-độc khít thân; phải tròn Liêm tâm, mạng tinh-thần; đừng Sĩ phận an cần thể ròng chánh-chơn tinh tấn; phải thông thời, phải thấu cơ Trời khải vận, Đạo hoằng ban độ tận khắp đồng chung. Bớ trẻ Ta Nữ-lưu danh trò Thiên-lý, thế cho Mẹ, thay cho Trời, phải chở che điều an bằng cho lương-dân, dẹp xong màng cơ-cẩn, chỗ lấn tranh, mầm ác ẩn thế đời; chung con hòa diệt tận các làng sầu; thế cho Mẹ, Mẹ Đại-bi, con trẻ Lương-tử làu làu; đứng lên giải phóng hố thẳm, hầm sâu trần lao ngòi độc tối; Chỉ giác cho chung đời nhìn Trời là mối, Đấng Toàn-Năng soi rọi có nào sai; chung con Nữ-sĩ thiện-tài, chí phiệt-liệt Liên Đoài bền đào chuỗi; thay cho Trời, Trời là Đại-từ giáng-lâm mở Hội, ban Háo-sanh tất xá khối Nhơn-Hoàng. Về phận con hướng trước dẫn đàng, kêu sanh-chúng chung thoàn toan lướt trần-ai là bể khổ; phận lái-thoàn phải vững vàng đừng xiêu chớ đổ, trọng trách chống chèo Buồm, Lạc, Trục, Bổ, toan Đại-chí, thiện ý thức đề cao; Trời che khắp cả Năm-màu, con noi dấu toan giàu Bác-ái; Tâm quảng-đại, Tánh hà-hài, Ý thành-chơn, Thân Đại-hùng, Thể Đại-lực, Nghiệp Chánh-đáng; nêu chữ hòa đề mục vờn vờn, cơ Tái-thỉ Thượng-nguơn nguồn Thánh-đức; Thời Cơ Vận Cuộc hòa đồng chỗ Bảo-sanh, câu nhân-nghĩa thi thực mới thành-công. Mọi lý, sự, vật toan xử trí rạng xong, gương anh-tú tinh-thần tấn trỗi. Đạo-đức phát minh trình độ trò Ta cao tiến hóa, cải tạo tư-tưởng, nêu sống vui hỉ hạ, tánh, tâm lập Minh-đức, phải đủ Trung-dung, nhân-cách liêm-cần; đề thiện mục nhẫn, hòa, kiên chánh; đồng nâng cao thời Thánh tạo trồng Dụng, Thể Tiên-nga; chỗ an chung gọi ở đặng hòa, nguồn phẳng lặng gọi nhịn ăn, mến thương giúp nhau là hiệp chí; Mặc ấm thân, xuất nhập viên-thể, trên thời xa câu tủi nhục, Đạo cứu Đời diệt tục, Thánh-thể Thần-mạng vui sống hưởng lành chung. Bớ Nữ-lưu! ban truyền tin phổ-huấn, tuyên đại hóa, trọng trách hướng giáo đời thông, cần thiết lý thực thi tề Pháp Đạo; tròn Nữ-hảo, vĩnh-bảo lối lề Thiên-Quốc, Thượng-đức Phục-thỉ, danh nghĩa Tôn-tử Hồng-Lạc, ứng Khai-Tịch, khiếu Quang-minh Tiền-đồ Môn Đại-Đạo đó.

THI

Kề vai gánh Đạo tế đời nguy
Giác độ nhơn-gian thức vụ trì
Trật tự con người tròn lẽ sự
Hằng tâm về tận phận đồng tri.

Bài nầy Nam-Công đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp Lý Tinh-Thần Thượng-đẳng, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung lời giáo thức-tri bổn phận. Trời sai vai trò phổ-huấn là: Thiên-lý lập trần-hoàn, Thánh-thanh, Tiên-thỉ. Rồi giao lại Chưởng-Quản in ra ban cho Huệ, Thiền, Thanh-Bộ mỗi trẻ một bổn, gìn đây bảo thân tề phận, lập thể Đạo-thành, nêu cao gương mẫu, Nhu-sĩ thạnh mầu nhiệm-vụ; nêu vào Thánh-Luật. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 8 Đinh-Dậu 1957 (10 giờ tối)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-điển gia ban lý diệu-hành
ĐĂNG tường chơn-chánh thể tồn thanh
CỔ kim thông đạt ròng tâm tánh
PHẬT độ Bồ-Đề đức trọn thành.

Mừng Chư Đệ-tử, Bổn-Sư nhìn Chư Đệ-tử, Bổn-Sư khả mừng thay, Chư Đệ-tử nay đặng vẻ vang tròn tâm học lý nên phận Chơn-Tu, vậy Bổn-Sư dạy ban hai chữ "ĐẮC-ĐẠO" chung Đệ-tử học cho rõ lý chánh-chơn, khỏi xiêu lạc chơn-truyền duy nhứt.

Đắc-Đạo là: Đắc khả đạt chơn, Đạo thanh vị chánh, là người đặng vẹn bền nơi tâm không dời, không đổi, không thái quá, không bất cập, tức là tâm không, không quá vui, giận, ghét, hờn… gọi Hư-không bất tận, gọi không tâm đắc kỳ không lý; tâm không, rõ lý không là tâm đặng tròn Đạo là Tâm-lý, ấy Đạo-tâm là: Vật, Sự, Thể, Lý khi hành định-tâm không rời Đạo, ấy là Đắc-Đạo vậy.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM La-Hán gọi như bình
CHƠN-TỂ kỷ-cang rõ chánh-minh
QUAN-THÁNH sáng trưng trung-thứ nghĩa
ĐẾ-QUÂN vặc vặc trọn thần kinh.

Bần-Đạo chào Chư Hiền-sĩ, mừng Chư-hiền. Hiền ôi! nay cơ Trời xoay chuyển Đạo cứu muôn Linh, phần Chư-hiền học lý Trời trao, hướng Đạo dìu chơn đó là phải phận, vậy chung nhau trong lớp học Chư-hiền định-tâm, Bần-Đạo ban truyền hai chữ "THÀNH-ĐẠO" đây mà trau-giồi cho rõ ngọc đó Chư-hiền.

Thành-Đạo do Đạo thành, Thành đạt chơn, tâm tồn khí, Đạo vị kỷ, kỷ hòa thanh, thanh vị chơn, chơn thành Đạo. Là: người muốn thiệt nên người Đạo-đức, muôn điều do về trọn thiệt, ấy hành sự thiệt, lý mới thiệt, thành người, động tịnh không rời Đạo, ấy nên người Đạo; người nên Đạo, đời người trọn Đức, tâm ở người tâm không rời Đạo, Đạo lập kỷ-cương chơn-chánh, người gồm Đạo là người thành Đạo. Đạo trước hết chỗ người rõ người, người biết người, ấy người thiệt người, là người trọn người, là người thành Đạo người là vậy.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU Minh Thần Huệ điển Trời ban
THIỆN chánh-pháp thân mới vững vàng
LA-HÁN Trời trao ròng Bác-ái
PHỔ thông TẾ lý ứng cơ-quang
THIÊN chơn vững đặt tường thanh-khí
TÔN chỉ tuần tuần rõ thống sang
Giáng thế Trời sai thông chánh lý
Đàn-tiền cơ-vận khải nhơn-gian.

Bần-Đạo mừng Hiền-sĩ, giờ học hỏi vừa rồi vẹn phận, Bần-Đạo nhắc thêm chơn lẽ thúc kềm; vậy Hiền-sĩ định-tâm trau-giồi cho nổi mặt.

Đây là hai chữ "CHƠN-ĐẠO" là chơn diệu kỳ trung, tín minh thông Tam-Thiên Bửu-lý. Đạo dã chi thanh, thượng kỳ tri trí, ấy là: chơn mới là Đạo, lập Hoàn-gian, Đạo mới là chơn, ấy chung thế-giái, Đạo ấy là phận thanh nghĩa trong. Chơn ấy thiệt, sáng thửa trong trong trọn sáng, nhờ xét mình tin một, là Công-bình, ngay thẳng, Công-bình vậy, ngay thẳng trọn, rõ thông ba huệ đức, Thiên-chơn, Nguơn-khí, Hoàng-yên gọi là Tam-bửu, Hư-vô Tam-bửu là thông Cửu-khiếu, tâm sáng khai quang thần Nguơn-khí, phá Cửu-căn chi trược. Hai lỗ tai, hai con mắt, lỗ miệng, cái bụng, cái nghề nghiệp, định phá trược trở về thanh là trong, tròn rồi rõ thông Cửu-Cung thể vật, chỉ ám hồi minh, Huỳnh chiếu Hoàng, Hắc-khí hoán Thanh-yên, đổi đen tượng sáng, huệ huệ Hoàng-yên gọi khai cang Hoàng-ký là vậy.

Trọn rồi thấu chí khí tức Thiên-chơn, là Thiên-vô chơn-pháp, kiến thức Cửu-tiêu, Thiên-chơn, Hoàng-yên, Nguơn-khí hiệp thành Thái-Cực, ấy là Huyền-Hoàng là đó, thị cố Thiên-kỳ sắc tướng Chơn-thể, Địa âm thinh chơn vật nhơn kỳ tâm thọ, thọ kỳ Chơn-Lý.

Thiên Cửu-tiêu Chơn-bửu là: Dương Âm gọi Thái, sấm chớp vị Thiếu-ký là sang chuyển tối sáng gọi khuyết chơn, là tế-vận, mưa nắng vị kỳ sanh-hóa, khắc hạp, là trứ tán quang khí.

Địa Cửu-cung là: vàng sắc, cây gió, nước non, lửa khoan, đất khiếu, cao núi, hoằng khe, nhơn hòa, vật trí... Chư Hiền-sĩ dò lần theo đây xét lý, thành tâm học chơn rõ lý chánh đó.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, giao bài nầy lại Chưởng-Quản in ra đến ngày 19 đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn đặng trong đây học chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 8 Đinh-Dậu 1957 - 8 giờ khuya)

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN sắc từ đây lý ứng màu
KỲ bình tâm tánh rõ Trời cao
CỔ Kim Đạo-lý là thanh thế
PHẬT Thánh khuyên Đời vẹn trước sau.

Nầy Chư-hiền, Bần-Đạo mừng chung nhau Hiền-sĩ hiện giờ học Đạo-lý Trời ban khuyên dạy bảo. Vậy chung nhau trong lớp học định-tâm Bần-Đạo chỉ dạy hai chữ là: “HỌC-ĐẠO“ đây Chư-hiền.

Học-Đạo: học tất khả vấn, Đạo tất khả chơn. Nghĩa là: muốn học lý Đạo, trước phải hỏi tâm mình coi học để chi thì rõ, học đặng hiểu sự học Lý-chơn, ấy thông Đạo nghĩa, gọi sự học lý thông, sự học là bắt buộc thân phàm dứt phàm, là tập sự, thành lý, thành lý là thiệt trong, ấy gọi lý thông, lý thông là trong sáng; trong sáng đặng sáng, phải tầm sự tối, gọi sáng đổi tối, ấy là đặng sáng, đặng sáng là trọn sáng ấy đồng sáng, là đặng sáng, đặng sáng.

Còn sáng tức đổi tối, rồi mất sự tối gọi thiệt trọn sáng vậy, rồi trong xa sự vật, trược, tối, thì trong sự tối, bỗng nên lý ròng sáng, gọi tâm thường sáng, ấy là định-tâm tường lý, dĩ học Đạo-chơn, thâu tánh phóng, sát bôn phi, thắng ý dục, đắc kỳ Đạo-lý; do học Đạo gọi dã hảo, bất học Đạo dã hảo là: người có học Đạo vậy gìn giữ tánh háo-sanh, người chẳng học Đạo đổi mất tánh Trời phú, là tánh tốt tươi hòa thuận. Người mất tánh lành tốt Trời phú, thì người mất hết Chơn-linh, là người chẳng trọn Đạo, ấy người mất Đạo, mất Đạo tức mất Trời trong đó, là người chẳng vẹn Đạo Người. Than ôi!!!

THI

Than thở ai ôi nhớ Đạo Người
Ôi đời đừng luống hỡi đời ôi!
Đạo chơn người vẹn lành thông hiểu
Người mất Đạo người thiếu tốt tươi.

MƯU, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đặng đến ngày 19 đến đây, đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn Đạo học chung. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 (9 giờ sáng)

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN minh chơn ngụy lý tương thành
KỲ vị tâm-điền rõ đức thanh
CỔ vãng Kim như thân thể hảo
PHẬT thường phất sự trọn chơn danh.

Nầy Chư Đệ-tử, Chư Đệ-tử định-tâm Bổn-Sư ban lời chỉ cho hai chữ “CHUNG-THỈ“ học chung nhau xét lý.

Chung-Thỉ là: Thỉ-chung như nhứt, trước hết phải biết Đạo người là Tạo-Hóa chủ quyền: sống thác, nên hư, tốt xấu, nạn tai, phước tội do Tạo-Hóa cầm cân, thì sau là phận người phải xử cư cho trọn phận Đạo người; muốn tránh tội, thì phải thuận Trời, muốn rạng người, càng rõ thông Lý-chơn lành phận, muốn hưởng phước phải Dĩ-đức, muốn thinh danh phải ôn Đạo, muốn cứu nguy phải tế-chúng, muốn trọn Chơn-Linh thì phải Bác-ái, đây là hiếu sanh, trọn Thỉ lý như, tròn Chung đức lành, Trời Háo-sanh là Thỉ, Nhơn hiếu chí là Chung, gọi Thỉ-Chung như nhứt là vậy.

MƯU, bài nầy Đệ-tử đọc trước giờ Đạo-Tràng nơi Diệu-Linh-Đền đây đặng trong đây học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 9 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 (1 giờ chiều)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-điển huệ chơn lý diệu-hành
ĐĂNG tường chơn-chánh Đạo ròng thanh
CỔ Kim vi tiện tường cơ hội
PHẬT độ Dương-trần lý thạnh danh.

Mừng Chư Đệ-tử, Chư Đệ-tử định-tâm Bổn-Sư thưởng cho hai chữ “THANH-PHƯỚC“.

Thanh-Phước: Thanh lý tâm trung, Phước tròn đức thạnh; Thanh huệ điển chơn, Phước do chơn-pháp, Đức thạnh thành công, Thanh thanh đắc nhứt. Phước thọ huờn nhơn là Đệ-tử trọn tâm về Đạo không gieo mầm vào trần trược, thì mỗi sự đồng chơn, thì tánh ròng thanh diệu, đức trọn tánh bình, phước ư diệu-huệ là Đệ-tử mỗi điều Vật, Sự, hành động, đừng rời Đức nơi Bổn-tánh, thì Phước thanh sẵn cho Đệ-tử thọ kỳ, hễ thanh tâm định, thanh đức di, là thanh phước đáo đó Đệ-tử.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM truyền Lý ứng nguồn thanh
CHƠN-TỂ ròng chuyên huệ Thánh-danh
QUAN-THÁNH nhựt Nghiêu tường Thuấn phận
ĐẾ-QUÂN cang-kỷ chí hùng-anh.

Mừng Chư-hiền, Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ “LÝ-TRUNG“.

Nầy Chư Đệ-tử, hai chữ Lý-Trung là: Đạo-lý, trung-tâm bền lý diệu, trung lý đắc thông Thiên, huệ-chơn minh vạn-loại, Đạo người phải giữ gìn chủ định. Chủ là tâm, định là lý, Lý-chơn chủ định là Ngôi-Thần, Ngôi-Thần là Ngôi-Ba, Ngôi-Một là Huyền-Không ấy là Trời, Ngôi-Hai là Chủ Thánh, tức là Nguơn-Tinh, là Thông-Thần, Ngôi-Ba là Nguơn-Thần, là chủ định trong ba do lý, rõ lý đó là Hoàng-Huyền thanh lý, Hòa-Khí Thông-Thần, chánh-chơn tường diệu lý, đó là Lý-Trung do thân chơn, do lý đắc tức huệ-thần, tường cơ minh diệu, đây là vô chơn thỉ phán, vi diệu pháp thân, chung thành hạo khiếu, Lý-Trung là vậy.

DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU minh chơn-chánh rõ cơ Trời
THIỆN dụ lo tròn mới thảnh thơi
LA-HÁN Trời sai truyền luật Đạo
THIÊN-TÔN PHỔ-TẾ đáo kỳ thời.

Mừng chung Chư-hiền, Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ “HUỆ-LUẬT“.

Huệ-Luật là Huệ-tâm Kiến-luật, Huệ-lý truyền chơn, Huệ-tâm thuận tánh, Luật-vị tâm trung. Tâm là: gồm chơn-chánh Tánh bày Đức thanh, Tánh thanh tường cơ vận, tâm trọn định Huyền-vi Huệ-Luật là: Hư-vô Thiên-Lý; mỗi cơ, cuộc, vật, lý, thể, hành động do Không ấy là người rõ Không-tâm, tức lý không tường vận-mạng, mỗi sự, lý đừng cho rời luật không, thì Không-lý ứng tâm; tâm chơn Vô-Vi huệ chánh, Tứ-tri thức giác, Tứ-phi vượt trọn, trừ khử màn trần, thì chánh-chơn thọ nhứt, cao lý dựng toản nhơn, tâm kiên hòa không khí, đó là Huệ-Luật đó Chư-hiền.

THI NGÂM

Huệ-Luật Trời ban mỗi mỗi đồng
Con Trời an-mạng kỉnh nơi Không
Không Không là Luật do tuân mạng
Mạng-vận của Trời khí tịnh Không.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Diệu-Linh-Đền hiện giờ đây, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 12 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 (7 giờ tối.

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN bình vạn-loại Đạo Trời Nam
KỲ vị khải chơn ráng khiết tham
CỔ lý truyền lưu kiêm tự tỉnh
PHẬT an ninh vật thủy Lồ-cam.

Mừng Chư Đệ-tử hiện giờ trong lớp học, định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ “HẠNH-TỪ“ gìn đây cho tròn Đạo-lý.

Hạnh-Từ: Hạnh là nết, Từ là lành; nết muốn trọn lành ý phải ngay; ý muốn ngay thân thể thiệt chơn, vậy mới gọi nết lành, mới tròn Đạo-đức; Tướng, Thể bền vậy mới sửa tâm trọn thẳng.

Tâm, tánh, thân, thể, nết đều ngay thẳng duy duy là trọn Đạo đó, mới trọn lành đó, mới rõ hiền đó; Đạo-đức, hiền lành thì tồn Thiên-lý; Đạo người vẹn vậy người thấu Linh-căn, Linh-căn đắc Đạo nhứt khí huờn Thiên, là người thành Thiên-Đạo gọi Thiên-chơn, tường tri Thiên-lý ấy là: Thiên vô thỉ Lý, Nhơn hữu chung tâm, Hạnh-từ là đạt Thiên-lý là vậy.

THI RẰNG

HẠNH đức bớ ai giữ trọn niềm
TỪ minh chơn nghĩa gọi nhơn nghiêm
HẠNH dung tri trí trung tâm độc
TỪ Lệ kiêm Côn ngọc ứng thiềm.

MƯU, bài nầy Đệ-tử giao lại Chưởng-Quản in ra, đến ngày 19 tháng 8 nhuần Đinh-Dậu đây đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn tại Tòa-Thánh, đặng trong đó mỗi Đệ-tử học chung xét lý.

Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

KHIÊM-CUNG, KỶ-CƯƠNG, THÀNH-NHƯỢNG

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 12 tháng 8 Nh, Đinh-Dậu 1957 - 7 giờ khuya)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ thần chiếu cảnh độ Dương-gian
ĐĂNG rọi màn u phá tục màn
CỔ trứ danh thông kiêm Giáo-Chủ
PHẬT Qui, Tăng Nhựt luật huy hoàng.

Nầy Chư Đệ-tử, hiện giờ chung nhau trong lớp học vừa rồi định-tâm nghe Bổn-Sư truyền ban hai chữ "KHIÊM-CUNG" đây định-tâm học lý, khỏi lầm sai theo lối tục.

Khiêm-Cung là trọn kỉnh, Khiêm là gồm, Cung là khép, là tâm tánh suốt thông, tường quang lễ nghĩa, tâm định chủ quang, lễ chơn vị Đạo, tánh thông Âm-chất, huệ đức khai hoàng, nghĩa-phương vị lý, Đạo người sáng suốt, Đạo-đức bền cầm, quang minh lễ nghĩa, gồm trọn Thể Lý đồng qui, tiện tâm phương tánh, Nhứt-mạch kỷ-cương, chánh-chơn duy nhứt, Đạo-lý tường tâm, nguyên lưu vị đại, ấy gọi Khiêm lý Cung, Cung lý Khiêm, Thiên Nhơn thông Đức, thanh khí rọi tâm, gọi Cung minh Khiêm trí là vậy.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM phất trược sẵn chơn thuyền
CHƠN-TỂ lý minh trọn giác-viên
QUAN-THÁNH ròng chuyên Trung, Tín, Nghĩa
ĐẾ-QUÂN thị trực vẹn kinh quyền.

Bần-Đạo mừng Chư-sĩ, Chư Hiền-sĩ định-tâm Bần-Đạo ban ngôn giác thế, truyền khai thanh lý, hoán hậu trược huờn thanh chơn, đặng nhìn đây xét lý sửa phận, giờ đây Bần-Đạo chỉ nghĩa hai chữ "KỶ-CƯƠNG" đây.

Kỷ vị Xuân huyền khai vô thanh lý, Cương vị Thu hoàng kỳ thể thanh, Thể Lý đồng thanh, lập Tâm Chơn-pháp vị chi Đạo, khai Tánh quang minh tường nhơn vị chi đức, Tâm Tánh, Đạo-đức, chơn-pháp quang-minh thanh nghĩa lễ, Thiên Độc-nhứt thệ Xuân vị sanh, Địa nghi hóa nhị Thu vị lập, Nhơn, Nghĩa, Lễ, Tín thông hòa vị Đức, Xuân Thu Tín-Đức, tức thị Kỷ-Cương, trọn tâm nhìn lý, xét rõ mối-giềng, mới vẹn Đạo-đức là vậy, Trời là thanh khí, thanh khí vận hành muôn loài thọ thức đặng trọn sống, sống gọi Trời che, Đất hóa sanh vạn vật chất, thảo mộc vạn-loại thực lộc, sống xét vững yên gọi Đất chở, Đạo người phân minh ký túc, rõ thấu trược thanh, dĩ dụng gọi nhơn thông; Thiên-sanh, Địa-hóa, Nhơn-thông, đắc nhứt vị chơn ấy là Đạo, Đạo tường Đức gọi Nhơn hòa, Cương-Kỷ qui cụ Xuân Thu là vậy.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU-THIỆN cảnh chơn gọi lý-mầu
LA tường HÁN phận lý Cung-Đâu
THIÊN-TÔN năng PHỔ cơ-quang TẾ
Giáng giảng Đàn trung huệ nghĩa sâu.

Bần-Đạo chào Chư-hiền, Bần-Đạo giáng Đàn giảng nghĩa chữ "THÀNH-NHƯỢNG".

Thành-Nhượng gọi thiệt thường, Đạo người trọn vẹn, phải trọn giữ chữ hòa; chữ hòa muốn trọn, phải giữ chữ nhượng ấy nhường, đặng vậy sánh lý Háo-sanh, thể hiếu kỳ gọi người hòa, sánh cùng Trời Đất xứng ngôi Tam-tài trọn Đạo là vậy; muốn trọn nhượng, nhường giữ vẹn là: thiệt mới gọi người nên, Đạo người là xét trước vẹn Đạo, xem sau tròn Đức, định lý khải ngôn, chánh-chơn vị mục, Tâm trọn nhường là tâm Từ-bi chi Đạo; Tánh trọn nhường là tánh Bác-ái chi Đức; Ý trọn nhường là ý Thành-tín chi Thanh, Đạo-đức Thanh, Nhơn-tri Tam-đạt là Thành-Nhượng đó.

THI RẰNG

Khiêm-Cung giảng lý để người tường
Cương-Kỷ rọi đời đắc nghĩa-phương
Thành-Nhượng Đạo trung thông bất hoặc
Chư-hiền thống đạt Lý tường dương.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy lưu đáo Bửu-Thơ, Chưởng-Quản in ra đến ngày 19 tháng 8 nhuần Đinh-Dậu đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn tại Tòa-Thánh đây, đặng trong đây nghe học chung. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

THIỆN-CÔNG

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 27 tháng 8 nhuần, Đinh-Dậu 1957 (11 giờ trưa)

---------o0o---------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-sĩ từ đây vẹn gái lành
(H)OA tròn thanh thới nhụy bền thanh
KIÊM triêu lý thiệt ròng Châu Ngọc
MẪU Tử thảo hiền trọn mối-manh.

Mừng Nữ-phái, mỗi con chung nhau lớn nhỏ trong lớp học Cao-Cấp hiện giờ học hỏi, Mẹ ban ơn dạy chỉ hai chữ "THIỆN-CÔNG" đây trẻ. Phần Nữ-lưu là: Hậu-Thiên nang phụ, vậy phận lành, bền cầm Chơn-thân, Chơn-thể cho tròn hai chữ Thiện-Công.

Thiện là lành, Công là cử động tinh anh; là khi mỗi con làm điều chi, sự chi, cần giữ gìn thiện nghệ gọi là: trọn khéo, sự, vật, thanh, trược, phân minh, thanh hành, trược xá, tâm khéo, tánh thông là hành thiện đó là: Thanh-nữ trâm anh cốt cách. Không dùng rực rằn, chẳng lụy tệ chi mới là gái vẹn, phận Nữ-nhi chủ chi sự thể là khuôn hẹp, thì thân thể phải cần cẩn nghiêm, xem Chơn-thân như vàng, Chơn-thể như ngọc, đừng để lả lơi theo thói chạ đó là bụi bùn, giữ gìn Đạo tại thân, đức tại thể, vẹn phận gái khéo, đó là: Đóa hoa tinh-nhụy. Khéo làm thân vẹn thanh, khéo trau thể vẹn trí, gọi là Nữ-lưu trí-huệ, trí-huệ bền cầm, trác trau thân thể thành chơn, gọi Phụ-công nghệ thiện.

THI RẰNG

Hậu-Thiên nang hóa hoán tường thanh
Thiện-Nghệ thân lành chiết xảo anh
Thanh trược xử trau hòa chánh-nghiệp
Thiện-Công nghĩa vẹn Nữ thinh danh.

MƯU, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đặng đến ngày 6 tháng 9 Đinh-Dậu đến đây, đọc trước giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp, trong lớp học nghe chung xét phận. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thât, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

THIỆN-NGÔN, THIỆN-DUNG, THIỆN-HẠNH

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 8 Nh, Đinh-Dậu 1957 (11 giờ khuya)

---------o0o---------

THỂ-LIÊNG TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ lý phân minh lý Thiện từ
LIÊN(G) Tòa chiếu diệu Đức Ngôn thư
TIÊN ban chầu chực dìu em chị
NỮ-sĩ vẹn mầu khí tượng ư.

Mừng chung Nữ-phái, Bần-Đạo vui thay!!! nhìn xem cõi thế trần-ai, mà hiện đây đồng lớp học, chung em thoát ra khỏi chốn phù hoa vật chất, kiền tâm định tánh, gìn Đạo Dĩ-đức, vậy mới phải phận Nguyên-nhơn trác lý hưởng vẹn ân Trời, trong cơ Thầy tế phước đó chung em. Vậy Bần-Đạo chỉ phân chơn lẽ hai chữ "THIỆN-NGÔN" đây giữ gìn trau thân, sửa thể, lập chơn.

Thiện: trọn lành, Ngôn: lời nói; ấy là người tu phước, tội, thanh, trược do nơi lời nói, nói thanh ấy là Đạo, tức là lành; muốn nói lành thì mỗi điều tâm cần cẩn thận gọi cẩn ngôn trí hiền; khi khởi nói định-tâm xét phận; thân-thể mình là người tu, thì nói tiếng đừng cho mất Đạo, trọn vậy là lời nói mới hiền, lành, vậy là Thiện-Ngôn đó chung em.


THOẠI-HOA TIÊN-CÔ Giáng-Đàn.

THI

THOẠI khí bao quanh tướng Thiện nhơn
HOA thơm nhụy tốt mạng Dung chơn
TIÊN Thần Cảm-ứng, tà xa tránh
CÔ độc cẩn-nghiêm mỵ thoát cơn.

Bổn-Cô mừng Chư-hiền tỷ muội chung nhau lớp học Cao-Cấp tại Nữ-Oa Đền hiện giờ đây, vậy chung nhau định-tâm Bổn-Cô ban cho hai chữ gọi "THIỆN-DUNG" Chư-hiền tỷ muội gìn tròn vậy là: lập thành Chơn-Đạo.

Thiện là lành, Dung là Thể, Tướng phụ nhơn hậu khí nang hóa là: đỡ, nâng đó là thậm trược, ngày nay gặp Trời khai Đạo ân-xá Nguyên-căn sa đọa từ lâu, nay Trời dùng lý tế chơn cứu thế; vậy chung nhau nhìn lý lập thể thân thành Chơn-Đạo.

Chánh-Đức là đi, đứng, thẳng, ngay trọn lành sát dục; thình tâm ngồi, nằm, mềm, yếu quang minh trọn hiền; sát phóng thâu tánh cười, nói, dịu-dàng, thanh thới trọn chơn; sát kiến sắc thâu trí lụy trọn lành, trọn hiền, trọn chơn.

Đó là Thiện-Dung Đạo-đức là đó Chư-hiền tỷ muội.

LIỄU-THANH TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

LIỄU hết trần-ai mới Thiện tâm
THANH tròn tánh trọn Hạnh bền thâm
TIÊN phàm tuy cách nhưng không lạ
NỮ giữ, nam gìn gọi nết khâm.

Diệu-Ứng Bổn-Tiên, chào Chư-hiền tỷ muội chung lớp học Cao-Cấp hiện giờ, Chư tỷ muội định-tâm Dữ-Chơn ban cho hai chữ "THIỆN-HẠNH".

Mừng chung nhau em chị định-tâm xét lý, phận Nữ-nhi chăn chiếu khó hẹp mọi bề, đắng cay nhiều nẻo, là cũng vì ngày trước kia đa trược tội thâm, nên ngày nay bị đọa đày nên phải chịu lâm trần thọ thân Nhi-nữ, đặng trả quả thế-gian, đền oan cho nghiệp-chướng đó. Vậy đến đây gặp đặng Đạo Trời khai mở, cơ thời xá hựu tội xưa, vậy chung nhau tỷ muội ráng định-tâm tầm lý thiệt, học hỏi sửa mình lập chơn thọ chánh, thân thể, tâm-trí tánh tông là thuần lý, thì cần giữ Thiện-Hạnh.

Thiện là lành, Hạnh là nết, gọi lành nết, về hữu dụng đắc chơn, Hư-không tồn lý. Nết trọn lành là nết phải trọn chơn-chánh lễ-nghĩa qui hồi Đạo-đức, tắc-trí vị kỳ huệ-chơn là: đi, đứng, nằm ngồi, nói, cười, xem, xét đều dĩ Đạo lập chơn, trọn vậy là lành nết. Tu-hành vẹn đây là Đắc-đạo đó Chư-hiền tỷ muội chung qui Dữ-Chơn ban khuyên Khuyến-nữ đôi lời Đạo-đức, chào tỷ muội độn ky Minh-Đàn thâu Huệ-điển.

Tiểu-Tiên khép mình chào Nam-Công, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra đến ngày 6 tháng 9 Đinh-Dậu đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng Nữ-Oa Cao-Cấp, trong lớp học nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

CHƠN-TU

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 5 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (9 giờ sáng.

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN bình ý tánh rõ Thần-quang
KỲ trí tri lương vẹn tánh an
CỔ hoán thông u tường Huệ-Luật
PHẬT qui đức triết hiển tâm can.

Mừng Chư Đệ-tử, Bần-Đạo lai Đàn chấm công ban lý dạy truyền Chư Đệ-tử hai chữ "CHƠN-TU".

Chơn là thiệt, Tu là sửa; bổn phận người Đạo hằng giờ phút trau sửa tánh, tâm, thân, thể đều chơn ấy là Chơn-Tu. Người tu phải có Ba-luật:

Một là khi mới cầu Đạo, là Thần-mạng Sơ-luật.

Tu Chơn là lo trau sửa thân mình cho Thần, Tánh, Mạng đều qui về Đạo, học hỏi nhiễm thuần-túy, lý phải đến Tân-luật. Tân-luật lý là học Đạo, hành Đạo, ấy là pháp-chánh, dĩ lý tế truyền, là đem nguồn Đạo-đức khai bày gọi truyền ban. Khi học hay là truyền ban tâm tánh, gìn giữ chánh-pháp đừng rời, mới tròn Đạo tế Đức, gọi làm gương Đạo cho Đời nhìn, vậy là thạnh lý đức thanh đó; rồi dò chơn đến Thánh-luật.

Thánh-luật là chơn-pháp, là Vô-Vi Tam-lý, Đạo-lý, Chơn-qui, Pháp-trứ là phận sự người tu tròn Đạo ánh lý vị chơn, tu chơn lý chánh, Thông-ký, Luật-Thiên, hòa tâm thông Tam-giới thắng kỳ tục, hiệp Tánh-đức, hiển Bửu-quang, đắc kỳ Thiên-chơn, thông Tam-luật, trí huy Tam-đạt, huệ khiết thỉ ký chung minh, quang-huy Huyền-hoàng, ký ký Chơn-Tu là vậy.

THI RẰNG

Tam-Luật Lão phân đã tỏ tường
Bền lòng Tịnh-dục rõ Viên Phương
Thông tâm Tịnh Trí minh Nhơn Nghĩa
Huệ tánh Tịnh-thần quảng Lễ thương.

MƯU, bài nầy Đệ-tử giao lại Chưởng-Quản in ra đến mùng 9 tháng 9 Đinh-Dậu đến đây, đọc trước giờ Đạo-Tràng tại Diệu-Linh-Đền Đạo học đây. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

CHƠN-HÀNH, CHƠN-TRI, CHƠN-GIÁC

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 7 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (8 giờ tối.

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-ĐĂNG đuốc rọi cảnh Dương-trần
CỔ-PHẬT dạy truyền tục hoán tân
CHƯỞNG-GIÁO chỉ huy Minh-đức rạng
ĐẠI-THIÊN-TÔN thạnh trí ân cần.

Bổn-Sư lâm Đàn, mừng thay!!! Chư Đệ-tử vi Dương khai lý học hỏi bền lòng, vậy Bổn-Sư gia ban hai chữ "CHƠN-HÀNH" đây chung nhau gìn giữ, trau sửa thể thân tâm tánh xuôi hòa gọi rằng Đạo thông đó. Chơn là: Tri lý sự chơn, Hành chơn thanh lý gọi Sự Lý Chơn-Hành. Bổn phận người tu, định hòa lý, hành trọn chơn, thì định, hành trọn Lý-chơn, đó là huệ tâm đắc Thánh đó; tròn vậy hằng vậy định Lý-chơn, hành Chánh-nghiệp, chung hòa Lý Sự, định hành chơn-chánh, chủ là Chơn-Hành đó.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM Nhiêu, Mặc đắc nhơn tường
CHƠN-TỂ vững thần trọn nghĩa-phương
QUAN-THÁNH giồi-trau trung chánh phận
ĐẾ-QUÂN Cửu Kỷ ký Trường Cương.

Bần-Đạo mừng Chư Đệ-tử, hiện giờ chung nhau trong lớp học định-tâm nhìn lý, Bần-Đạo ban truyền hai chữ "CHƠN-TRI" đây mà học định.

Chơn là tồn ký sự. Tri là triết Lý-quang, gọi là: Người vẹn hay về lý là: tâm sạch bụi hồng, bền nhớ mỗi sự phân minh, vẹn bình tâm tánh, tâm trọn chơn, tánh trọn tri, Tri-Chơn thống đạt Thiên-Chơn, Chơn-Tri Thiên-Chơn trí lập là vậy.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU-THIỆN Đâu-Cung thọ lịnh Triều
LA hòa HÁN hiệp ký đăng Diêu
PHỔ thông TẾ lý tường cơ-vận
THIÊN phán TÔN gìn giữ tịch triêu.

Bần-Đạo mừng Chư Hiền-sĩ, Chư-hiền định-tâm nhìn lý, Bần-Đạo truyền ban hai chữ "CHƠN-GIÁC" đặng chung nhau Hiền-sĩ bền cầm trau trác tánh tâm cho thanh nhẹ.

Chơn huy vị Đạo, Giác thống hậu tiền, người tu trọn Chơn-Giác, gọi đạt huệ Chơn-như, là tự mình xét mình, trị mình, dạy mình, khuyên mình, là mình biết xét mình thanh trược tường phân, mới dễ lập chơn, đó là Chơn-Giác. Chơn-ký vị hồn, Giác trí vị tam, ấy gọi Giác-Hồn. Có Tam-phẩm: thông Thiên-lý, giác Tri-lương; thông Địa-thể, giác tri thanh; thông Nhơn-hòa, giác Tri-đồng, ấy là: Lương, Thể, Đồng tri; lập thành Chơn-Giác đó, giờ nầy Bần-Đạo giáo truyền tâm-lý tri quang Chơn-Giác.

THI RẰNG

Chơn-Giác trí quang động thể kỳ
Lập thành Chơn-Giác Đạo Lương-huy
Giác tri Tiên, Tục thông tri cảm
Lý tượng, Vật tri Đạo định Duy.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đặng đến ngày 9 tháng 9 Đinh-Dậu đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng tại Diệu-Linh-Đền Đạo học chung.

Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

TAM-LÝ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (7 giờ sáng.

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN ký phân minh chánh nghĩa thành
KỲ tài trong trắng trọn là thanh
CỔ Kim Đạo-đức thông tri trí
PHẬT Giáo Tiên-Duy Tam-Lý rành.

Mừng thay Chư Đệ-tử sẵn lòng tu-niệm, sẵn dạ học-hành, nay Bần-Đạo ban lời dẫn dạy cho hai chữ "TAM-LÝ" đây đặng cùng nhau học hỏi cho rõ lý mẫu-khuôn gìn thân xét phận, cho vẹn lý tu-tâm đó Chư-hiền.

Tam-Lý là: Trung-dung, Cảm-ứng, Từ-bi. Người tu gìn điểm Linh-quang cho trọn sáng, muốn trọn sáng thì đừng cho tâm tánh vọng động, tâm phải bình lặng, tánh phải hòa an; muốn tâm tánh bình hòa thì bền cầm Đạo-đức, gìn giữ bực trung, thong thả dung thứ, vô câu, bất-dục gọi Trung-dung; trọn Trung-dung, an cơ lý, rõ cơ thanh, tâm cảm chơn, tánh thông lý, ứng thanh phương, gọi Cảm-ứng thanh-phương, trọn Cảm-ứng Thiên-nhơn nhứt khí rồi chung tâm trọn phận Từ-bi; Từ khai lý, Bi chiếu tường-vân, người vẹn tròn Tam-Lý, trọn thông Tam-giới, trọn vậy là: an tâm thông ký minh quang chánh-chơn vị đại đó Chư-hiền, thông Thần khai Khí, trí định thông-chơn, tri lương Tinh-huệ, gọi người tu thông Tam-Lý đó.

THI RẰNG

Tam-Lý Lão phân dẫn trí hiền
Bền cầm Tam-Lý gọi tri nguyên
Môn-sanh ứng vận tâm tròn Đạo
Đệ-tử dưng chầu thạnh giác-viên.

MƯU, bài nầy Đệ-tử giao lại Chưởng-Quản in ra đến ngày 19 đến đây đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn tại Tòa-Thánh đặng trong đó học chung nhau. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

TỨ-QUI, NGŨ-LÝ, KHÍ-TƯỢNG

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 9 Đinh-Dậu 1957 (8 giờ sáng.

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI THIÊN-TÔN

THI

HUỆ tâm mới rõ Đạo dò phăng
ĐĂNG huệ rọi đêm sáng tợ giăng
CỔ tích đức thanh kiêm ứng vận
PHẬT thường dạy chỉ phước Trời lâm
CHƯỞNG thanh phùng lý hòa Thiên-Thượng
GIÁO huấn vưng hành Địa Lợi tăng
ĐẠI-Đạo khai chơn nơi Thiệm-Quốc
THIÊN-TÔN Trời ký khí Dương đăng.

Bổn-Sư mừng Chư Đệ-tử, Chư Đệ-tử định-tâm Bổn-Sư ban chỉ rõ nghĩa hai chữ "TỨ-QUI" đây học chung nhau mà sửa phận.

Tứ-Qui là triệu hồi Tứ-đức, Tứ-tướng hòa Đạo dựng lại Tứ-chơn, là nơi thân thể mỗi ai đều đủ đầu, mình, tay, chơn sánh cùng Trời Đất là Đông, Tây, Nam, Bắc cùng Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tứ-thân dựng chơn lập thành Tứ-thể, tròn Tứ-thể gọi thông Tứ-chánh lý nghiệp, muốn trọn Tứ-tướng hòa chơn thành thanh chánh nghiệp, thì tâm định cảm ứng Tứ-Qui:

1. là: thân-thể gầy dựng trọn thiệt là: điều chi mất thiệt nơi trong, định-tâm sửa lại, gọi sát nghiệp-lợi, qui nghiệp chánh, hòa Thiên-chơn.

2. là: khi đi đến nơi nào thiếu thiệt, tâm định hồi khứ trở lại, gọi tâm-định hoán hồi qui Địa chánh.

3. là: phận người trước hết của sự sống là tấm thân khi ham muốn làm lụng gánh vác, nằm ngồi gặp nơi thiếu thiệt, định lại xét mình, sửa lại thoát ra khỏi nơi thiếu thiệt, trọn vậy gọi tâm định tuyệt thân dục, lập thể chơn, qui Thiên-đức chơn không, gọi anh-tinh trí-huệ.

4. là: phận người Cao-tăng thanh lý là: tiên thủ cái đầu, là trước hết Tinh-quang, thì cần giữ gìn Tinh-duy, phục khôi Nguơn-khí, tránh ra cho khỏi bị lụy giả thần, tâm định sát phóng tánh, trừ ý mê, thâu kiến ốc huờn thanh, qui Chơn-nguơn định qui Thiên-lý.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM La-Hán khải tường nhơn
CHƠN-TỂ nêu cao Tín chẳng sờn
QUAN-THÁNH thanh phương thông thông lý
ĐẾ-QUÂN Cang-kỷ lập Trung-chơn.

Bần-Đạo mừng Chư-hiền, Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ "NGŨ-LÝ" đây mà học hành xét lý.

Ngũ-Lý gọi Ngũ-Giáo lập đời, trên đời hết là: loài người duy trọng, biết trọng người cần gìn giữ Thiên-chơn không lý là Ngũ-Lý tường quang.

1. là Thần-Giáo, Lý-Minh là chơn chơn, huệ chánh.
2. là Thánh-Lý là: Thánh-Giáo, thanh tâm kiến huệ Trung-thứ duy duy.
3. là Tiên-Giáo, Tiên-lý, Cảm-ứng Lý-chơn, thanh thạnh Đức thông.
4. là Phật-Giáo, Thiên-cơ, thanh tâm hòa khí, tri luật hộ chơn, nhơn thông phất sự, nhơn hòa chơn thuận, chơn tri lương hiệp là: thuận lý hòa thanh, Thánh, Tiên, đoán Thần Phật thanh từ lý độ nhơn.
5. là Nhơn nguyện tùng Thiên, gọi Nhơn-giáo là: Nhơn lý chơn không, hữu tướng là vậy.

Phận người tu gìn giữ Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật gọi Ngũ-Giáo hòa tâm, thạnh tâm đạt Thiên-lý, phận người thành nhơn, hành Đạo duy duy nhơn hậu, gọi đáo Thiên-quang là đó.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU-THIỆN Thiên-chơn ký Diệu-Cung
LA thành HÁN hiệp thấu chơn trung
PHỔ thông TẾ đức tường cơ sự
THIÊN lý TÔN Thần thống lý dung.

Bần-Đạo mừng thay! Chư-Hiền định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ “KHÍ-TƯỢNG“.

Khí-Tượng là: Chơn-qui Chánh-vị là nắm mối chánh, qui nguồn chơn, thông tri lý định, định trí tường quang, lập thành cội lý, là chơn-chánh lý qui vẹn sáng, sanh thanh. Người trọn vậy là thanh-nhơn, giác-lý, tri-trí, Đạo-đức là vậy đó. Khí-Tượng là: gồm sáng, gồm sáng sanh sáng, gọi nhơn thanh Khí-Tượng là vậy.

THI RẰNG

Nhơn thanh Khí-Tượng rạng chơn Trời
Chơn-Lý qui tùng mới thảnh thơi
Chơn ấy gọi Trời, Trời huệ lý
Chánh tâm vị Đạo, Đạo thanh Đời.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra đến ngày 19 đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn tại Tòa-Thánh, trong lớp học nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

TÙNG-THIÊN

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 4 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 - 8 giờ trưa.

---------o0o---------

NỮ-OA KIÊM-MẪU Giáng-Đàn.

THI

NỮ-lưu phận trẻ gắng kiền-thiền
OA vẹn thanh phương cố giác-viên
KIÊM thạch giồi-trau cho nổi mặt
MẪU-khuôn Đạo-đức chắc đồng nguyên.

Mừng thay Cao-Cấp Học-Đường, Nữ-lưu thanh lý hiện giờ tại Nữ-Oa Cung-Điện, vậy chung nhau lớn nhỏ định-tâm nghe Kiêm-Mẫu giáo truyền hai chữ "TÙNG-THIÊN" đây mà học lý xét mình cho vẹn phận tu.

Tùng-Thiên là định-tâm tùng huệ-lý, Thiên-vận ứng tâm-trung là: phận làm người mỗi sự, vật, lý đều do Thiên-lý; là Lễ, Nghĩa tri phương, vẹn vậy là không phạm vào luật Thiên-điều nơi răn trị. Nầy mỗi con nhìn Trời vi Chủ, Trời là Háo-sanh Cơ-hóa, là Cơ-quang tượng khí; dầu Hàm, Linh, Xuẩn, Động do lý Trời Hóa-sanh, do Âm Dương hòa hiệp, Đạo người muốn bền cầm lý Hiếu-tử vào khuôn-mẫu Tùng-Thiên, thì Tánh Tâm hòa hiệp, Hiếu thuận Đễ xuôi, tròn Đạo đó là xứng ngôi Tam-tài đó, vậy phải phận Đạo người, nhơn hòa Thiên-lý, muôn việc do Thiên hành lý, thoát tục, tâm tánh định hòa thanh.

Tùng-Thiên là Tăng-khí, Tăng-khí mới trọn pháp thân, vậy mới đến chỗ Nhơn-hòa, Thiên-chơn ứng vận, gọi Tùng-Thiên vi thiện, Thanh-lộc thăng bường đó mỗi con.

THI RẰNG

Thăng bường cảnh tượng ứng điềm chơn
Thơ thới thung dung lý diệu vờn
Chánh-pháp Tùng-Thiên hòa vận-mạng
Thiên-chơn đắc Trí, Tín, Nhơn huờn.

MƯU, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đến ngày 6 tháng 10 Đinh-Dậu đến đây, đọc trước giờ Đạo-Tràng nơi Nữ-Oa Điện, lớp học Cao-Cấp mỗi trẻ nghe chung.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

TÙNG-LÝ, TÙNG-PHÁP, PHẬN-NỮ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 4 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 - 8 giờ trưa)

---------o0o---------

THỂ-LIÊNG TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

THỂ thanh chí Thánh huệ tâm trung
LIÊNG đượm mùi hương ứng lý dung
TIÊN Phật khai chơn thông trí nghĩa
NỮ-lưu Bác-ái khiết Minh-cung.

Bần-Đạo chào mừng chung lớp học Nữ-Oa Cao-Cấp hiện giờ, vậy chung em lớn nhỏ định-tâm Bần-Đạo truyền ban hai chữ "TÙNG-LÝ" đây học chung nhau xét phận tu-hành.

Bổn phận Đạo Người, Thi-công, Hành-sự đều do nơi tâm định trước hành sau, đó là lý, vậy mỗi em khi định; là định sao cho về lành, về chơn, về hiền, đó là Huệ-lý, thì khi định đó biết nhìn Trời, tức là có Trời trong; Tâm định diệt phàm, Tánh bình diệt tục, Ý hòa diệt trược, đó là Thánh-Tâm; thanh tri trí vật là đắc kỳ Thiên-chơn, vẹn vậy là Tùng-lý, Huệ-khiết thanh tâm là đó.


THOẠI-HOA TIÊN-CÔ Giáng-Đàn.

THI

THOẠI điềm ứng lý giáo lưu thanh
HOA nở mùi thơm đức thạnh hành
TIÊN Phật đồng qui cơ giác-thế
CÔ-Ni tri khí vận huờn danh.

Bổn-Cô mừng Chư-hiền tỷ muội. Chư-hiền tỷ muội định-tâm nghe Bổn-Cô truyền ban hai chữ “TÙNG-PHÁP”.

Tùng-Pháp là: định-tâm qui pháp, thọ lý Thiên-chơn gọi Chơn-tâm vi trí, Pháp-luật tùng Thiên, Vô-Vi tri giác, tế đức tánh, tồn tâm chơn, pháp thân bất lụy đó là Tùng-Pháp.


LIỄU-THANH TIÊN-NỮ Giáng-Đàn.

THI

LIỄU hết trần-ai chí chẳng hoài
THANH tâm thông tánh quyết đừng sai
TIÊN ban Cảm-giác phương tri kỷ
NỮ giữ, Nam gìn vẹn mới hay.

Mừng thay! Dữ-Chơn ban lý truyền ngôn, khải công giáo đức, Chư-hiền tỷ muội tường lãm, giác kích tiền tha, giờ nầy Dữ-Chơn ban hai chữ "PHẬN-NỮ" chung nhau hiền, tỷ, muội giồi-trau cho thành Thanh-nữ, Thượng-lưu, Khiết-trí.

Phận Nữ là: phận kích Khuê-môn, Nữ-nhi bất quản, là vì ngày xưa đa tội thậm trược, ngày nay luân hồi Cấu-xú kỳ thân, Vô-thanh kỳ xúc, Đa-dục kỳ ý gọi là Hậu-Thiên; nhưng muốn vẹn thanh quang lưu thủy, thì hoán hậu trược, tâm chí đắc dương thanh, nghĩa-phương trau-trác, Túc-lý kỳ tánh, Đa-chơn kỳ tâm, Tam-tùng kỳ trí, Tứ-đức kỳ thân, Ngũ-chơn kỳ thể, Ngũ-đức kỳ danh, Bát-quang kỳ bửu, Cửu-khiếu kỳ thông, thọ thanh tâm, xá trược ý, đây là Phận Nữ. Đắc-đạo Tồn-Nguơn Tây Tông kết Ương-Đoài, Trí-Trạch, Chơn triêu liên-đằng tri thống là đó.

NGÂM RẰNG

Phần người thân gái đa đoan
Chư-hiền tỷ muội phòng toan Tâm-điền
Đón ngăn ái, dục, ố, duyên
Tam-tùng, Tứ-đức, cẩn ngôn ân cần.

Chào mừng Nam-Công Hỏa-Đức Nguơn-Khí Độc-Chơn, bài nầy lưu hạ Bửu-Thơ, Chưởng-Quản in ra, đến ngày 6 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 đọc sau giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp nơi Nữ-Oa Điện, chung nhau xét lý. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐƯỜNG CHÁNH NẺO TÀ

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 8 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 (9 giờ trưa)

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN sắc từ đây ứng điểm màu
KỲ bình triết lý cảm Cung-Đâu
CỔ Kim Đạo-đức Trung-dung rạng
PHẬT độ hữu duyên Bác-ái ròng.

Mừng Chư Đệ-tử, Bần-Đạo giáng Đàn cạn phân "ĐƯỜNG CHÁNH NẺO TÀ" Chư-hiền tường lãm.

Đường Chánh: Đường Đạo-đức; dạy ngay, dạy thẳng, dạy lành; Dạy an, dạy hiệp, tập tành sửa thân; Dạy tu, dạy học, ân cần; Dạy thương, dạy mến dò lần Thiên-chơn.

Đường Chánh: Đường ngay thẳng quang minh quảng đại; chẳng tà-tư cũng chẳng đổ xiêu.

Nẻo Tà: Nẻo mưu chước phân ly bầu-bọc; Nẻo nhố-nhăng ác độc tổn nhơn; Nẻo hư linh-huệ mỏn sờn; Nẻo tà tại chỗ cưu hờn giận nguy; Đa hãm trược làm ly Thiên-đức; Mỏn Chơn-hồn hố vực tâm khuy; Chư-hiền gạn xét cho cùng; Hòa nhau nhìn lý ung dung đề huề.

Nầy Chư-hiền, Nhớ cho kỹ nào thê nọ thảm, bởi vì đâu? tâm ám tánh lu; Vì do ngang độc đa ưu, xem mình thậm trọng hiếp ngu hiếp hèn, Tâm như vậy đó Chư-hiền đành xen tà-tặc, Đa sân si đa ngặt đa ngu, Chung rồi trần trược trần ru, Tham nhiều thậm tội rồi đâu hỡi Hiền.

Than ôi!!!

Đạo Trời khai mở cứu đời cùng
Dạy bảo Nguyên-căn ráng hiệp sum
Khắp cả thế-gian đồng máu thịt
Con chung Trời Đất bớt hoành tung.

MƯU, Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đặng đọc trước giờ Đạo-Tràng nơi Vô-Vi Cảnh Diệu-Linh-Đền ngày 9 đến đây, đặng trong lớp học nghe chung sửa phận về lành. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

LÝ-CHƠN CHÁNH-GIÁO, THỈ-CHUNG, DIỆU-LÝ PHỔ-THÔNG

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 8 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 (10 giờ sáng)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-ĐĂNG ánh vọi phá mù mê
CỔ-PHẬT giác chơn dạy Bỉnh-tề
CHƯỞNG-GIÁO thay Trời cầm Luật cả
ĐẠI-THIÊN-TÔN lịnh kíp đề huề.

Bổn-Sư mừng Chư Đệ-tử thanh phương Cao-Cấp Học-Đường, chung nhau hiện giờ trong lớp học định-tâm nghe Bổn-Sư dạy truyền "LÝ-CHƠN CHÁNH-GIÁO" đây Chư-hiền.

Phận người tu phải tròn Nhơn-Đạo, là tròn Nhơn tức tròn Đạo, trước hết tránh điều sát sanh vị chi nhơn, đây là đắc nhứt; Nhơn đắc Nhứt kỳ Đại, đó là chí Trượng-phu, năng nhiêu, năng dung hòa tánh Quân-tử; năng nhẫn, năng nhượng ấy là Hư-vô tri-trí, vậy gọi người thức thiện dụ, nghĩa người biết Đạo người, là người chẳng sát sanh mạng của người, Linh-hồn không tuyệt là đó, tròn vậy là mới trọn phận người tu là đó.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM kiến khí bất dung tà
CHƠN-TỂ làm gương chốn giái-ba
QUAN-THÁNH sáng trưng đồng Nhựt Nguyệt
ĐẾ-QUÂN Trời định Chủ giềng đa.

Mừng Chư-hiền, Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo phân cạn "THỈ-CHUNG" đôi lẽ, đặng chung nhau nhìn lý xét lòng Thỉ-chung, Chung-thỉ là vầy: trước vưng Thiên-mạng thọ kỳ Môn-đệ, thì nơi tâm Chư-hiền phải định trọn, xét tròn, vưng lời Trời dạy đó là do Thỉ, thì nơi tâm Chư-hiền huệ điển ứng trung, vượt qua hắc ám đó là chung qui kỳ Đạo, hữu duyên tường Thiên-thỉ, hữu đức chung phận tường qui, Thỉ-chung tồn Đạo, Chung-thỉ đắc chơn đó Chư-hiền.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU-THIỆN Thiên-Cung trí Chưởng-Quyền
LA bền HÁN định thấu Căn-nguyên
PHỔ thông TẾ thế truyền Chơn-Lý
THIÊN phán TÔN Thần ký vững yên.

Bần-Đạo mừng Chư-hiền hiện giờ chung nhau trong lớp học định-tâm, Bần-Đạo truyền ban “DIỆU-LÝ PHỔ-THÔNG” đặng chung Hiền khán ký, Diệu-lý thanh phương, Giác thân thọ mạng; Phổ-tế cứu Linh, Thông chơn thoát tục, vậy đó là Nhơn vị Đạo, Đạo tồn tâm, Đạo-tâm bất lụy, ấy là Thượng-trí phân minh, Trí-quang tri huệ là đó, trọn vậy phải phận người tu, tâm tồn thận-độc, Diệu-Lý Phổ-Thông là đó.

NGÂM RẰNG

Người tu cho thiệt mới là
Người tu thiếu thiệt, chẳng hòa nguồn chơn
Hiền ôi! Dĩ-đức Hóa-nhơn
Mến thương là Đạo, đừng sờn chớ bôi.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đến ngày 9 tháng 10 Đinh-Dậu đến đây đọc sau giờ Đạo-Tràng trong lớp học nơi Diệu-Linh-Đền nghe chung. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đồng Tin Ư Nhứt

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 (3 giờ chiều)

---------o0o---------

NHIÊN-KỲ CỔ-PHẬT Giáng-Đàn.

THI

NHIÊN nhiên, nhiên tự, tự nhiên bình
KỲ cố, kỳ quang trí vị thinh
CỔ vãng thanh chơn kim Tín Nghĩa
PHẬT Tiên, Hiền-ngõ Khí, Thần, Tinh.

Bần-Đạo mừng chung lớp học đến đây đã vẹn năm Đinh-Dậu, cơ mầu thúc hối, Mậu-Tuất kề sang, trong Chư-hiền Đại-Thiên-Phong Cao-Cấp, định-tâm dò lần lý thiệt hành y, noi dấu đường lành trỗi lý tinh-thần bước sang về thiện.

Nầy Chư-hiền, trong đời có chi hơn là Đời-thanh đồng ư chí thiện đó Chư-hiền, Chư-hiền muốn chung nhau trên cõi thế-gian dẫn dắt nhau đến nơi thiện-tâm mỹ-tánh, thì Chư-hiền ráng định-tâm thọ kỳ Chơn-Lý, một trọn một là an, thiệt chung thiệt là hòa, ấy là thiệt một, gọi thanh là Chơn-Lý, trọn qui tâm "Tân-Dân" là Dương-khí tròn, cảm thanh "Minh-Đức" là Quang Âm, đây là thanh thanh nhị khí hóa tường-vân, đồng lý hiệp chơn đó Chư-hiền, bền cầm trọn vậy gọi: Đồng Tin Ư Nhứt. Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo phân lý Đồng Tin Ư Nhứt. Là Đạo người:

ĐỒNG nhau sự sống, khí hiệp Thiên-lương, Ngôi-Thần ngưỡng húy.

TIN Tâm trung trực, Tin Lý thanh tri, Tin thân túc kỷ, Tin Tánh đức minh, Tin Ý thành chơn, Tin Thể thanh bạch, Tin Quang Chủ-Tể, Tin Trí phân minh, Tin Tri Huệ-luật, Tin Nghĩa tồn nhơn, Cực Tin phất trược là đó.

Ư là: chưng noi theo chỗ một là biết vậy chưng noi vậy, gọi biết hay lành phải, liền ráng noi theo lành phải, Ư là vậy đó.

NHỨT là Một gọi là cực điểm, không dời, không đổi, không sai không lang lợt, gọi không còn cân sánh đâu lần nữa ấy là một; gọi rằng Thiên-chơn tri-giác. Đồng-Tin Ư-Nhứt là vậy đó.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đến ngày 19 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Huấn trong lớp học nghe chung xét phận. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung .

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

THIỆN-NIỆM, CHÁNH-ĐẠO RÒNG LÝ, GIÁC-LÝ HỒI-QUI

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 17 tháng 10 Đinh-Dậu 1957 (3 giờ khuya)

---------o0o---------

HUỆ-ĐĂNG CỔ-PHẬT
CHƯỞNG-GIÁO ĐẠI-THIÊN-TÔN

THI

HUỆ-ĐĂNG chiếu diệu gắng dò phăng
CỔ-PHẬT quang huy trí nhựt tăng
CHƯỞNG-GIÁO Giác-mê linh Tín Nghĩa
ĐẠI-THIÊN-TÔN định thế ăn năn.

Mừng Chư Đệ-tử, Bổn-Sư mừng cho cơ Đạo đặng rặt ròng, vậy từ đây Chư Đệ-tử bền cầm trau-trác, đừng để hiu tâm, ráng dò phăng cho kịp kỳ thiện-niệm đó Chư-hiền. Hiện giờ trong lớp học chung nhau định-tâm Bổn-Sư truyền ban hai chữ "THIỆN-NIỆM", là thiện tâm chung phận thường tu-niệm là Lý-chơn chiêm-hốt chánh quang, Thỉ-chung qui nhứt, tả an hữu bình, thiện-niệm là vậy đó Chư-hiền.


DÀ-LAM CHƠN-TỂ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN Giáng-Đàn.

THI

DÀ-LAM chơn-pháp chánh tâm gìn
CHƠN-TỂ tế Linh Đạo-đức minh
QUAN-THÁNH lộ châu ròng Thống-hiệp
ĐẾ-QUÂN cang trực lý Trung-bình.

Bần-Đạo mừng thay! Chư-hiền đã dày công học hỏi trong lớp học Cao-Huấn định-tâm nghe Bần-Đạo truyền ban lý-nhiệm, lý thiệt chánh Đạo đây mà xét mình cho trong trắng "CHÁNH-ĐẠO RÒNG LÝ":

Chánh chửng thằng từ trực, qui-củ nhứt tri.
Đạo tâm tường nhơn hậu, chơn nhiệm nghĩa-phương.
Ròng tánh tâm tri trí, đắc huệ thắng si.
Lý tinh duy trung chiếu, quang huy tường bã bất lụy tu-du.
Chư-hiền vưng thửa bền cầm là đắc chơn tồn chánh, tâm tánh thành qui, Tân-dân chí thiện đó Chư-hiền.


DIỆU-THIỆN LA-HÁN PHỔ-TẾ THIÊN-TÔN Giáng-Đàn.

THI

DIỆU tâm THIỆN dụ gắng bền cầm
LA-HÁN phong lưu trí vị thâm
PHỔ-TẾ chơn-ngôn linh ký trứ
THIÊN-TÔN giác thế trạch kim tầm.

Bần-Đạo mừng Chư-hiền định-tâm Bần-Đạo truyền chơn chánh ngữ, gọi là "GIÁC-LÝ HỒI-QUI" đây Chư-hiền, tâm tri giác Lý-chơn, tâm giác tiền kỷ hối phi, tâm giác tâm tiền lỵ, tâm giác ý tiền Si, tâm giác tánh đa Sân, tâm giác trí cang tiền đa Tham vọng, tâm hối tiền phi, tâm tri cải thiện, hồi trí Tân-dân, qui tri Minh-đức, qui-củ bổn-nguyên đó Chư-hiền.

Vậy đến đây lớp học Cao-Huấn niên Dậu an bài, Lý-chơn cứ vịn, trác-trau thiện-niệm, thì niên Tuất kề sang, Chư-hiền gắn bó học hành cho tinh thần càng phát triển, ký nhựt tăng-qui đó Chư-hiền.

THI NGÂM MỪNG THAY!!

Mừng thay Đạo học vẹn tương kỳ
Nhắc cả Chư-hiền dạ cố tri
Ôn lại lời trao từng lớp học
Rõ thông tâm tánh thấu đồng qui.

Chào Nam-Công Hỏa-Đức, bài nầy giao lại Chưởng-Quản in ra, đến ngày 19 đến đây đọc sau lớp học Cao-Huấn nơi Tòa-Thánh đặng trong đó nghe chung. Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

CHUNG