Hai chữ HỘI-THÁNH

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (9 giờ sáng)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC là quý báu trẻ mài trau
HOÀNG-Lịnh điểm phê phận thức mau
ĐẠI-Đức gia ban lo giữ phận
ĐẾ Tiêu Cửu chuyển rạng danh Cao.

Mừng mỗi con, mỗi con chung nhau học hỏi hiện giờ đây, gọi đồng tâm ư nhứt. Giờ nầy mỗi con định-tâm Thầy dạy cho rõ hai chữ “HỘI-THÁNH” đây mỗi con.

Hội là chung hiệp về lành, Hội qui tâm tín-ngưỡng, Hội một khối tin Trời, Hội nhau đem lời chơn giáo dục, Hội lo giải phá phàm-tâm đem lại Đạo-tâm. Phàm-tâm là ham muốn vật chất, thế quyền, xát xô nhăng-nhố, vì đó mà phải phạm tội Trời. Giờ Đạo khai Lý Trời ban dạy con lành, tự tỉnh nơi lòng nhiều con; vậy Hội lại đem nguồn lành đó, giải phá phàm-tâm trước đó, phàm-tâm tan mất tự nhiên trở lại Đạo-tâm. Đạo-tâm là Đạo thâm cảm trong tâm, giờ phút nào tâm không mất Đạo, gọi Đạo vào trong, trong giàu Đạo; đó gọi Hội lành, sáng tự tâm thanh Thánh. Tượng trưng Lý, Thể Hội-Thánh, đây là hai Lý, Thể tượng trưng Âm, Dương trong hai hòa một Luật.

Hội-Thánh phải thế Thiên gọi Thánh-Thanh-Thiên, Tiên-Tri-Thần, là phận sự Hội-Thánh, là sáng trong, là phận sáng, tâm trong đó là Trời trí. Tiên-Tri-Thần là: Cảm-ứng rõ Lý Càn Khôn, hữu báu, định tâm chọn chánh-chơn gồm chung gọi là Đạo vậy. Trong đó, Nhơn-sanh đồng bái phụng lý sáng đó, đồng nhau hội tâm chiêm ngưỡng, chỗ sáng là đồng sáng, ngày ngày thêm sáng, lý nhơn hòa, sanh thuận, là đồng sáng, trọn sáng đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra đặng nêu vào Trung-Thiên Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

ĐẠO-ĐỨC NỀN NHƠN

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 3 Mậu-Tuất 1958 (2 giờ chiều.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc oai ân đủ bớ con
HOÀNG Thiên thâu chọn trẻ tâm không
ĐẠI-Ân võ lộ cơn nầy hỡi
ĐẾ Chủ Càn Khôn gọi trắng trong.

Thầy mừng mỗi con chung nhau Hội-Thánh, hiện giờ học hỏi Đạo-Đức tại đây. Vậy mỗi con định-tâm nghe Thầy ban dạy “ĐẠO-ĐỨC NỀN NHƠN” đây mà học xét đó con thơ trong mỗi trẻ.

Đạo là Diệu-pháp Hư-vô, thậm cao thậm thâm chơn huệ. Đức là chánh nghĩa vi nhơn, Đạo-Đức định, Vô-Vi ứng, Đạo là hòa thuận. Đức gồm Hạnh, Nhơn, Từ, Nhượng; Đạo là Tri-giác Diệu-hành; Đức là Minh-tâm Huệ-tánh, tỉnh khang, Thần Mộ, Triêu Tịch vi tư, thiện trí. Gọi là giờ phút tâm tánh thường định xét lòng, gìn luật Trời, giữ mạng vận, trọn lòng Nhơn, ấy là Đạo. Đức thân thể chẳng rời, Đức trong mỗi phút thường thường bền lòng tin Đạo là thiệt, gọi giữ luật, nói thiệt gìn Lý, làm thiệt phụng thờ Thiên-luật, tồn Tánh Đức, vẹn vậy hòa Tâm Đạo. Tâm-Đạo, Tánh-Đức vẹn giữ gìn kiên cố đó mới vẹn sáng chung, gọi Tân-dân Minh-đức, do chỗ Thân Thể vẹn tốt, Tâm Tánh trọn lành, Lý Pháp dồi dào. Phận người đủ Đạo, Nhơn Nghĩa thạnh hưng; phận người đầy Đức, Lễ Trí diệu hành; phận người trọn sáng, Tín Trung thận-độc; phận người thiệt ngay, Hiếu Đễ thường tồn; phận người an hảo, Liêm Sỉ phân minh; Đạo người bền vững đó. Trọn vậy gọi xây dựng Nền Nhơn, tâm Chơn thể Chánh. Muốn vẹn giữ trọn nhơn, phải gìn giữ luật Công-Bình cho trọn, là vẹn. Đạo là Nền, Đức là Nhơn, Công là Minh, Bình là Lý. Đạo-Đức Công-Bình trọn, Trung-Thiên toản ngọc tại phàm-gian đó mỗi con.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đặng trong đó nghe chung. Rồi giao lại Chưởng-Quản in ra đặng nêu vào Trung-Thiên Nhiệm-Luật.

Còn Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Về Đạo phận Tam-Tông, về Giáo-Tông

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 12 tháng 4 Mậu-Tuất 1958 (3 giờ chiều)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC trắng lại trong Pháp-luật tròn
HOÀNG đồ tế thế gọi lòng con
ĐẠI ân ban rưới Châu Nam-Thiệm
ĐẾ Chủ Khôn Càn lý dẫn thông.

HƯƠNG con nghe Thầy dạy: về Đạo phận Tam-Tông, về Giáo-Tông Thầy có dạy rõ rồi. Hiện đây cơ thể rạng hồng, Thầy dạy ban ra đây, chung nhau học hỏi rõ biết Dụng, Tướng, Thể, Đạo vẹn hành, Lý-chơn thể chánh đó chung con.

Về Hiệp-Phong-Đài, Hiệp-Chưởng-Đài, là Tông-qui nhứt điểm, quảng trí mục đích Đạo Trời, cơ Lý, Thể nền nhơn vẹn đó.

Đạo-phục Hiệp-Chưởng-Đài:

- Mão 3 từng, mỗi từng 15 phân, chung cộng là 45 phân 4 tấc 5 phân. Đó là Cửu-căn Tông-trí phụng Thiên. Ba từng Thẻ, mỗi từng 18 phân, là gọi trọn Tâm chỉnh đốn Tam-Tông, lý Tam-tài, thọ Tứ-ân, hoằng Tứ-đức. Khuôn Mão 12 giác là Thập-nhị quang lý khai cơ, thấu 12 lý Thiên-Hoàng hướng trí. Ngạch đỏ, Mão vàng, Tâm tồn xích tận, trị xác huỳnh thông. Ngạch chánh tim 12 phân phía tiền, đó là tiền trình thừa mạng, tối trọng diệu thanh; hậu 10 phân gọi đốn tiệm như như, mười phân bất hủy, tấc dạ du hành. Ngạch ngoài tiền Đoài hậu Cấn. Tiền đề chữ HIỆP, hậu đề CHƯỞNG. Kề tả, hữu cung Tiền tạo phụng vàng, đó là khải ân tri ngộ, chiết Cấn điền Đoài, đề chữ Nho gọi Nam-Châm ứng chỉ. Thượng kỳ có đề hàng chữ Nho trước Ngạch:“PHỤNG THỪA THIÊN MẠNG TRÁC LÝ HUỆ TÂM KHẢI CHƠN TƯỜNG CHÁNH”. Lý gọi vưng thửa mạng Trời trác trao lý sáng, học hỏi chẳng ngừng, Thiên xuân ứng vận, Tâm sáng diệt mù, mở khai nguồn thiện, rõ Chánh-giáo Trời trao, tâm trung thận-độc. Hai ngạch trong kế tiền, hậu gắn Nhãn-Tâm gọi ngưỡng tin bất diệt. Dưới tiền đề chữ HIỆP, hậu đề chữ CHƯỞNG, lý gọi hiệp Ba thấu Càn, trí chưởng Tam-Nguơn. Thẻ Mão lương tri tâm tánh, gọi Liên-Mạo Thần-Quang. Thẻ Mão đề chữ Nho màu vàng, đề 12 chữ: “TRUNG THỨ TÍN MINH QUANG HUY CHƠN CHÁNH CẢM GIÁC THÔNG CƠ”. Nghĩa là Trung không dời đổi, Thứ vẹn Bác-ái, Tín đồng nhìn một, Minh kiêm toàn sáng suốt, Quang quảng đại tế nhơn, Huy nguồn lành ban bố, Chơn-Lý thiệt diệu hành, Chánh giả thiệt không lộn, Cảm lành lòng rõ lý, Giác thâu chẳng lầm, Thông rõ Trời ban phước, nhơn hậu đắp nền, gọi Liên-đằng Tín-ngưỡng. Thẻ từng kế đề hàng chữ Nho “HIẾU HẠNH LỄ NGHĨA NHƠN TỪ KHIÊM TRÍ LIÊM HẬU ĐỄ HÒA”. Lý là nền nhơn, Hiếu Nghĩa dẫn đầu, Hạnh cung Đạo phận, Lễ độ rạng danh, Nghĩa phương cư xử, Nhơn Từ nhiệm vụ Đạo người, Khiêm Trí trọn xét thân an hưởng, thái hòa gồm chung thọ phận, cải tục tối tăm, sáng lòng an trí, Liêm trong trắng vẹn bình, Hậu cố tri Sư-giáo, Đễ xuôi lý tránh quyền, em anh phẳng lặng, Hòa nhượng nhịn giao tề, chung tâm thệ lạc. Từng kế gọi ngoài đề “ĐẠO ĐỨC TỒN CHƠN LÝ THANH XINH LẠC ĐÀO NGUYÊN TIÊU CỰC”. Lý gọi phận người Đạo-Đức, tâm tánh bền cầm lý thiệt, gọi là xinh tốt vui mừng, an phận về nguyên lý đề huề, Ngôi Trời xuôi vận, thanh thới ta bà, chẳng trưa phận sự, không tối Đạo người là Thượng-lưu đó. Kim-Quang, Phượng-Thằng, Thẻ gọi thòng xuống màu đỏ, ánh vọi đèn Trời thì chánh chơn về một; tròng vàng chữ trắng lý tương sanh, là Thổ sanh Kim, gắn kim tuyến, gọi trung huờn bất xú, gắn vàng theo tròng đó là Lý, Thể đồng hảo; trên gắn Nhãn-Tâm, chữ Nho 12 chữ “TÂM THÀNH HUYỀN DIỆU TÁNH NHIỆM HƯ VÔ ĐẠO ĐỨC THÂN LẬP”. Lý Tâm vẹn thiệt trong, rõ đặng lý Trời trọn sáng không lu, rọi thấu khôn trùng dạ hẹp, kiên húy trọn niềm, tánh nhiệm Hư-vô, tánh không vọng, nhiệm đức Bổn-Nguyên, không mê thầm, Lý Trời không tư, Công-bình báo ứng, Đạo-đức thân lập, gầy dựng Đạo người, phải mến thương chung hiệp, thân vẹn giữ Đạo-đức đừng rời. Tâm, Tánh, Thân trọn vậy là hòa một; Trời, Người hòa lý.

- Thẻ dài 8 tấc, gồm Bát-Bửu, trên 4 phân, qui tả hữu tứ qui, dưới 8 phân, gọi qui thần trí lập Bát-chánh bền cầm. Lạc-Thần-Phong hậu 9 tấc gọi Cửu-chuyển Bạch Thanh, nền màu trắng. Khăn 12 lớp chữ NHƠN, gọi Nhị-thập Chơn, Nhơn hòa ý hiệp, màu đỏ, lý tâm thành son-sắt, đề 12 chữ Nho y như ngạch Mão vậy. Mão nầy Kim-Quang Tông-Mạo. Khăn nầy gọi Ngọc-Trí-Cân.

- Áo Khai-dương Đơn-phục, tiền tạo cung Đoài màu trắng, hậu tạo cung Cấn màu xanh, gọi chiết Cấn điền Đoài Kim khắc Mộc, Mộc thành Khôn. Áo đóng 12 nút 3 phân màu trắng. Đó là hành Kim sát trược, Đạo-đức trí gồm tối mục, Tam-cang qui nhứt. Trên bâu đóng 1 nút màu đen một phân, đó là hành Thủy, nhứt trí không dời không đổi, gọi cố nhập. Cổ áo, tay áo Đại-phục, Tiểu-phục, Thường-phục, viền một lằn 3 phân màu xanh nơi ngoài, đó là tương giao ký tế chánh chơn, cùng Hiệp-Phong-Đài; trong 11 lằn vàng 1 phân, đó là phẩm cấp hữu qui hậu cố; mở trôn đinh 3 tấc, dậm dày tùy thân, gọi phước dư, là Đạo-đồng che chở nhơn vật của Càn Dương. Khăn Tam-Thanh y lớp, là lý cấp phẩm thạnh hành, Vĩ-nhơn thành Đạo, tượng Tông Tam-giáo Qui-nguyên, hào quang chiếu cảnh, lý gọi Tam-huê Tụ-đảnh. Khăn đen chủ lễ kỉnh luật Cửu-Tiêu, khi đi hành đạo chẳng rời phụng sự. Xiêm viền đen là lý Bỉnh-chánh hậu Khôn. Ca-sa màu trắng lý hành Kim, thuộc thọ Đoài Khuyết. Kết lằn xanh hình Đoài Cấn, lý gọi chiết điền. Bố-Tử 21 phân, gọi lý Cửu-chuyển gồm tâm, Thập-nhị tường châu ứng vận. Chữ 12 phân, Tứ-đức phẩm thanh là tối thượng thừa vẹn dạ. Chữ đục lủng lòi chữ Hư-Vô đắc nhứt lý Huyền-Hư. Chữ HIỆP trắng, hành Kim tâm ngăn trược, bìa vàng gọi Thổ sanh Kim, chữ Nho đeo theo Đơn-phục 7 phân. Chữ CHƯỞNG màu trắng, đó là rạng Kim tường phế thọ Dương diệt Âm là Đạo đó. Chữ 7 phân ngừa Thất-tình thọ Chơn-Như Bảy-tánh.

Về Hiệp-Phong-Đài:

- Nút áo 3 phân màu xanh, gọi Chưởng kỳ Âm, Phong kỳ Dương, Âm Dương hiệp, hộ trì Tông-Nghiêm Đại-Đạo. Xiêm viền đỏ, ký tế Hiệp-Chưởng, tả Phong, hữu Chưởng, nhứt thị trung Tông.

- Áo Đơn-phục, tiền cung Ly màu xanh, hậu cung Khảm màu trắng, là Ly hành Mộc thuộc nhơn linh; hậu cung Khảm màu trắng hành Kim, vật ninh thoát khỏi trọng trược, gọi người thanh, thể bạch, lý Trung-Thiên là vậy. Trên bâu là tương giao Hiệp-Chưởng, gọi đồng qui Tín-Nghĩa. Chữ mang theo Đơn-phục, chữ PHONG màu xanh, lý thọ Dương Tông chỉ. Chữ Bố-Tử màu xanh, chữ HIỆP bìa đỏ, cơ vận hành xuân sanh Hè Chưởng. Y Phục viền một lằn 3 phân màu trắng, ký tế Hiệp-Chưởng, 11 lằn xanh là phẩm phận Thiên-ban Tước-vị kỳ Dương.

Đạo-phận Hiệp-Phong, Hiệp-Chưởng y, nhưng khác lý là Âm Dương tri lý đó.

Còn Mão Hiệp-Phong, Lạc-Thần-Phong màu xanh, đó là thanh phận. Mão Hiệp-Phong y như Hiệp-Chưởng, đó là đồng lý, nhưng đổi lại tiền cung Ly màu xanh, hậu cung Khảm màu trắng. Đó là tượng lý tả hữu chánh chơn, hộ trì Tông-Mục, Đạo Thể đó. Hàng chữ trước ngạch quan, tiền đề HIỆP, hậu đề chữ PHONG, tiền màu xanh, hậu màu trắng, lý Dương khai Ly thạnh, Âm đức thông trung là lý đó. Khăn Đại-phục màu đỏ, đề chữ xanh in như chữ Mão vậy.

Ca-sa màu xanh, lằn kết màu trắng, trong lót xanh, kết lằn Ly Khảm, lý Thiên-cơ vận hành Đạo người thông sáng. Hiệp-Phong phổ hóa môn linh; Hiệp-Phong lý kỳ Dương, cố kiên Giáo-lý thông thơ; Hiệp-Chưởng Cố kiên Chơn-Đạo, Vấn truyền Giáo-Tông giáo chơn thông mục đích, mục tông qui lý.

Tam-Tông là đây Hương trẻ. Giờ học Đạo vừa rồi chung nhau nghe lời Thầy dạy.

THI

Tam-Tông ứng vận lý kề đây
Năm bảy năm qua thẳng bước hay
Mậu-Tuất dạy truyền thông Tý hội
Cửu-thông Đạo-đức xác hồn qui.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong Cao-Cấp Học-Đường nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Trung-Thiên Nhiệm-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Nhị-Chưởng Hình-Đài, Hội-Dương Thanh-Thánh, Nhứt-mạch Qui-nguyên

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 11 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc chấm công trí trẻ hiền
HOÀNG-đồ dìu dẫn đến Trung-Thiên
ĐẠI đồng huynh đệ thông hòa hiệp
ĐẾ Chủ Khôn Càn Thống-nhứt Nguyên.

HƯƠNG, con nghe Thầy dạy; về phần Nhị-Chưởng Hình-Đài, Hội-Dương Thanh-Thánh, Nhứt-mạch Qui-nguyên đây con trẻ.

Nầy con HƯƠNG, muôn việc chi lý tâm làm chủ. Vậy giờ học Đạo hiện hiển đây vưng nghe Thầy ban dạy, chung đây mỗi con lớn nhỏ.

Về Chưởng-Pháp-Đài: Bố-tử 18 phân, vành trắng. Gồm Hội-Thánh Chưởng-Quyền Vi-diệu, thọ pháp môn bí yếu tùng tri. Số Nhị-cửu mầu vi cơ lý, Pháp thân tâm di dị thông lưu. Trắng ngoài là vẹn xuân tươi, thân hình thanh bạch vẹn nơi tâm hòa. Số 18 đây là tri trí, rõ trược thanh ứng chỉ Tông nương; Bố ban Tâm-lý nghĩa-phương, Tử minh Chánh-pháp kỷ-cương thông đường. Chữ 12 phân, chữ TÍN màu tím; trong số Cửu tam-tam liên khí; thấu Tam-quang huyền bí chi lương. Màu tím; màu hòa khí không phân nhĩ ngã, trước cùng sau thượng hạ cận minh. Tả chơn, hữu chánh nghĩa-phương; đây là Nhị-Chưởng-Pháp tường Đạo an. Cửa khai chánh Ngọ lập đường, thông Huỳnh chiết Khảm đỏ thương trắng ngoài. Hội kỳ Hoàng, Thánh kỳ Dương; đây là pháp nghĩa Hội phương, nghĩa-phương phụng kính mở đường thấu Khôn. Bố-tử chủ lý nghiêm tôn, là tôn chủ định tâm trung ngưỡng trì. Tín là chơn tín duy duy, Tín ư thọ tín đồng qui trung hòa. Đó chung mỗi con.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Thiên-Phong Học-Đường, đặng trong đó mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật. Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Về Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 11 tháng 5 Mậu-Tuất 1958 (2 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành đây hỡi trẻ hiền lương
HOÀNG lịnh chấm công trẻ bước bươn
ĐẠI-Đạo Tam-Kỳ truyền Phổ-Độ
ĐẾ Qui-nguyên bổn chỉnh phong cương.

HƯƠNG, con trẻ cùng chung Hội-Thánh sau giờ học Đạo vẹn xuân. Vậy mỗi con hãy định-tâm vưng nghe lời Thầy ban dạy đây mỗi con.

Về Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo: Yểm-Linh-Tự là chữ 7 phân mang theo Đơn-phục màu xanh, chữ THÔNG nghĩa là: Huệ-Luật Điều-Qui Pháp-chánh Đương-nhiên, chữ 7 phân, ngăn Thất-tình, cho vẹn Chơn-Như; màu xanh tượng lý thanh Tâm, Thân, Mạng; chữ THÔNG là bền cầm Thiên-tánh, vẹn Đạo người xem xét mối giềng, huy hoàng Pháp Lý kiền-thiền minh trưng.

Về Chưởng-Đạo: chữ LẬP về Tâm-lý Đạo duy duy; định Lý Thể tồn Dụng, Tín, Kiến, Tri, đây là: tấc thành thọ mạng điều qui, Chưởng-Quyền khai lập thông trì lưỡng quang, Hội chung cương kỷ châu tàng, Bá Tòng Nhị-Chưởng Pháp an Đạo bình. Chưởng huờn hữu dụng pháp linh; lý thanh thể rạng đức minh thới hòa. Thông Chánh-pháp Trời Cha vị trí, Định lập nền cao quý tòa chơn. Đây là phương pháp lập nhơn; lòng thành chung hiệp hóa-nhơn dĩ tường, đó mỗi con.

THI

Thông tri Pháp Lý của Trời bày
Lập Đức chung nhau vẹn mới hay
Thượng Hạ an hòa cơ thạnh trí
Nền nhơn tỏ rõ gọi thông quang.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường Cao-Cấp đặng trong đó nghe chung hiểu lý chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (4 giờ khuya.

-------o0o-------

CAO-ĐÀI NGỌC-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

CAO sâu mầu nhiệm thấu Anh-tài
ĐÀI độ cuộc trần vẹn mới hay
NGỌC quý cần trau tròn thấy sáng
ĐẾ Quyền chủ thạnh chiếu châu toàn.

HƯƠNG, con định-tâm nghe Thầy ban chỉ, Đạo-phục Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo đây rõ lý đó con.

Áo gọi Đạo Lễ phục:

- Về Chưởng-Pháp viền một lằn lớn 3 phân màu vàng, đó là giao tiếp với Chưởng-Đạo.

- Chưởng-Đạo viền một lằn ngoài 3 phân màu xanh, đó là hòa tâm cùng Chưởng-Pháp. 3 phân là Đạo-ba vẹn giữ; màu xanh rạng rỡ Thông-dương, màu Huỳnh chiếu cố nghĩa-phương trọn niềm. Trên cổ áo cũng y vậy, là đồng thanh Tứ-tượng khuôn viên; kế nối theo lằn liên tiếp.

- Về Chưởng-Pháp 3 lằn xanh, 3 vàng, kế 3 đỏ, mỗi lằn 1 phân là Tinh Khí Thần; Dương sanh Cửu-lý, thống Tam-tài tri-trí phân minh.

- Về Chưởng-Đạo, viền trong kế mỗi lằn 1 phân, 3 đỏ, 3 vàng, 3 xanh, đây là Thần Khí Tinh. Chưởng-Đạo kỳ Âm, cơ thành lập, dùng Thần Khí Tinh, lý gọi trỗi Thần ký tế lý Dương sanh.

- Cổ áo, tay áo Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo viền Tam-Thanh giao tế, gọi tượng trưng Tam-Thiên Nguơn-Bửu, Thể hòa Lý. Cổ áo thọ Càn, có Nhựt Nguyệt Tinh Tam-bửu lý kỳ Dương-khí. Bửu Thể tối sáng, mưa nắng, sấm chớp gọi thông lưu. Tay mặt thể Lý hình vật, là Địa cuộc hậu khí, hữu Tam Bửu Lý. Tam Bửu Thể: Thủy, Hỏa, Phong là Lý Dương Bửu. Về hình thể Sông Núi, Quằn Cao, Nhơn Vật. Nhơn kỳ Trung chấp vãng là: Tay trái Thần Khí Tinh, trọn Thần đạt lý Trí dõng, Nhơn-Hậu, Lễ-Nghĩa. Trôn áo viền một lằn đen, thể Hậu-Thiên Hành-Thủy, thể Thủy-lưu, Lớn gọi Rong, Ròng gọi Kém, Ươn gọi Nhủng, là ba Lý Thể. Áo xẻ trôn đinh trôn hậu thành bốn vạt, vẹn bền Tứ-đức Tế-nhơn, chở che vạn-loại chẳng sờn lòng thương.

Vậy mỗi con học lần Thầy giải phân lần đến đó chung trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Cao-Cấp Thiên-Phong-Đường nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo-Đài

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 6 Mậu-Tuất 1958 (5 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-Sắc chỉnh đoan mối Đạo Trời
HOÀNG thành lưu hậu khắp năm nơi
ĐẠO Cơ Cuộc thể ròng khuôn mẫu
ĐẾ Chủ Huyền-Quang khải vận thời.

HƯƠNG, con định-tâm nghe Thầy giảng giải Đạo-phục Chưởng-Pháp, Chưởng-Đạo-Đài đây chung nhau rõ lý, gọi rằng khuôn mẫu roi truyền.

Xiêm 3 lá để trắng 3 tấc, 5 lá 3 tấc 5 phân, có viền một lằn đen, bề ngang 5 phân, bề dọc 3 phân màu vàng, lý gọi Hậu-Thiên vận chuyển Ngũ-Hành. Màu vàng là Huỳnh-Trung vượng Thổ phân Đoài qui, Tam-tài ròng rặt Tam-tri; 3 phân là Ngũ-căn dụng vật thông qui diệu-hành là viền 5 phân. Ca-sa che đắp thân hình gọi dùng Thể Đạo-đức thoát Tình-tục hư; màu đỏ là noi gương lập đức chí Phục-Hy gọi Hà-Đồ màu vàng, lý Quạch-Quái chỉ đường sanh khắc cho đời nhìn sắp đặt mẫu khuôn; trong lót trắng, trắng trong trong trắng làu làu, Tiên-Thiên tâm ứng Thiên-Hoàng hành Kim, ngăn trị tà tâm. Thẻ áo 18 lớp là: Trong số Cửu Âm Dương ứng chuyển, Lục-Long-Đồ, Lục-Thông-Qui, Lục giáp Lý. Thẻ màu Đỏ noi gương Phục-Hy ròng Nhơn-Hậu, dựng nền Nhơn truyền thấu Năm-hằng. Khăn Đại-phục 9 lớp chữ Nhơn, đứng làm anh dĩ-đức hóa-nhơn, gồm Tam-Thiên-Bửu Cửu-Chơn ứng truyền; màu vàng chữ đỏ, thọ sắc Huỳnh Tâm-trung ứng nhựt; đỏ, vàng hòa là lý tương sanh, đề 12 chữ Nho: “PHỤNG THỪA THIÊN MẠNG DĨ ĐỨC HÓA NHƠN KHẢI THÔNG CHƠN CHÁNH”. Phụng thờ Thiên-lý thừa mạng lập công, Thiên ban Sắc-lịnh, Mạng pháp tuân y, lập nền hậu Lý, Công tâm diệu hành, dĩ-đức chẩn bần, đức rạng thành chơn, hóa trược huờn thanh, nhơn tâm huờn thiện, khải Lý dìu Linh, thông tri cơ vận, Chơn-tâm bất hoặc, Lý Chánh-pháp dồi dào.

Vậy chung nhau mỗi trẻ, vưng học lần lần, Thầy dạy thêm đó chung con trẻ.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đặng trong đó nghe chung xét lý. Đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các khóm Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Thường-y Lễ phận Đầu-Sư

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ tối)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc tứ phê phán luật hành
HOÀNG-đồ độ dẫn khắp Nhơn-sanh
ĐẠI-ân Trời xá chung phàm-giái
ĐẾ Chủ Càn Khôn cương-kỷ thanh.

Thầy các con, mỗi con an lòng vưng học, lý thiệt bày khai, Thầy ban pháp diệu, kiền thân thanh thới đó chung trẻ. Giờ đây HIỆP, con định-tâm nghe Thầy giảng dạy về Đạo-phục Thường-y Lễ phận Đầu-Sư đây chung con trẻ.

Khăn Đại-phục, phái nào màu nấy đó là: gồm lý Tam-Thanh ứng bửu vận hành Nho, Thích, Đạo. Khăn 15 lớp chữ Nhứt là: gồm Tam-ngũ rõ thông Tam-giái. Khăn Tam-Thanh, Khăn đen, thể Tam-tài dụng đại qui căn; Lý khai cảm-ứng năng hoằng; Từ-bi Bác-ái Bổn-căn Công-bình.

Áo Đơn-phục, tay 5 tấc không viền, gồm lý Ngũ-hành. Thường-phục có viền là: rõ Trời trước có năm lành, phủ che vạn loại chỉ rành Âm Dương; Đạo người gìn giữ nghĩa-phương; Đạo hằng năm mối kỷ cương tỏ tường; Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín giao tương; gọi là Đạo trọng bỉ-thương Đạo người.

Áo Đại-phục, tay rộng 7 tấc; Phận tu lễ trọng kiền-thiền; Chơn-như Bảy-tánh mối giềng dò phăng. Viền 1 lằn 3 phân, trong 5 lằn 1 phân, ngoài 1 lằn 1 phân là: Trong số ngũ nhứt phân ức vạn, là đứng đầu tỏ cạn ba công; ngoài là: vẹn lý 1 bày thể thanh an mạng xuân đồng đào viên. Lằn 3 phân là: vẹn Tam-tài làm đầu một phái, rõ Lý Trời phải trái cũng đồng. Trên cổ viền cũng y vậy là: dưới trên thể thúc kềm thân, thể ngoài vẹn chí lý trong nhơn bình. Phái nào viền màu nấy. Phái Ngọc thuộc thay Nho gia, xưa xuất thế Phục-Hy màu đỏ, kế Phật-đường rõ tỏ Huỳnh-Tương, Đạo Tiên thanh bạch nghĩa-phương, gọi rằng Cảm-ứng níu nương ba màu.

Ca-Sa phái nào màu nấy, hòa lý lót trong gọi hòa liên. Phái Ngọc lót vàng, phái Thượng lót đỏ, phái Thái lót xanh. Nút cổ cũng lý liên hoa. Viền 15 lằn là: Tam-ngũ qui gia, liên-đằng hóa cách, thể như lót vậy; lý diệu gọi là: thanh truyền y-bác liên hoa ứng hồng.

Đầu-Sư áo đóng 3 nút, hình tròn 3 phân, phái nào màu nấy, lý là: Tam-tài châu đáo Huyền-hoàng; khải-thông Tam-Giáo trước đàng dìu chơn.

Thẻ áo 18 lớp là: tượng lý thể cơ-quang Nhị-cửu, do Không-Dương hản hựu chấp trung. Thẻ áo bề dài 9 tấc, bề ngang trên 36 ly, dưới 63 ly. Thẻ áo nầy dầu phẩm nào hình ngang từ Đầu-Sư đến Lễ-Sanh y khuôn-mẫu, lý gọi là: trong số 9 kềm thân khai khiếu, rõ chín thông bí yếu chín chơn.

Bố-tử 18 phân, chữ 12 phân để liền vẽ chữ là: số Nhị-cửu Hoàng-đồ hạnh tuyết; số 12 trạm-tịch khuyết cang; Xích Huỳnh Thanh, Tam-thể tao phùng. Đây là Thánh-Đức khải cung giúp Đời. Chữ mang 7 phân, phái nào màu nấy, có giảng giải chung thể trước rồi.

Về Đạo-Quang chung qui Thầy giảng giải sau.

Về Xiêm cũng đồng khuôn mẫu. Viền 1 màu là lý tượng trưng.

Vậy chung mỗi con vẹn hành cho trọn phận đó chung con trẻ.

THI

Tam-Thanh thay Giáo gọi Tam-tài
Thể dụng hướng đầu vẹn chớ sai
Lý khiết minh trưng hòa bửu trứ
Đạo đồng tường pháp dạ tròn thay.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, các Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

An phận diệu hành, trắng trong minh pháp

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 7 Mậu-Tuất 1958 (11 giờ khuya)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà châu báu bớ nầy con
HOÀNG-lịnh ban hành khải Cửu-Cung
ĐẠI-Đức đại công lo tế thế
ĐẾ quyền nắm mối lý Hư-không.

Thầy mừng con HIỆP, con định-tâm vưng nghe Thầy ban dạy, an phận diệu hành, trắng trong minh pháp đó trẻ.

Về Tứ-Bửu Hội-Thanh Thánh-Đức, là Thiên-Thể, thừa hành Thiên-Lý, Pháp-chơn, Lý-chánh, khuôn mẫu chỉnh tề, thước tấc Áo Xiêm qui củ, giảng phân rồi. Xiêm viền phái nào màu phái. Chữ Yểm-Linh Luật-Tự 7 phân hình tam giác là: Huệ-khí, Luật-thanh, khử trừ Thất-tình. Áo đóng 4 nút 3 phân, hình tam giác, gọi tiểu nhi nghiêm lịnh. Nút cổ phái nào màu phái, 1 phân là: nhứt phân bất hoặc. Bố-tử 21 phân là: cơ chỉnh thể Tam-thất, Chơn-qui. Cơ-Đạo vành vàng; Cơ-Pháp vành xanh; Cơ-Lý vành đỏ; Cơ-Thế vành đen. Trong 4 Đức đỏ, vàng, xanh, đen, thể Tứ-Linh kiêm lý, thể hành. Chữ BỬU 12 phân, màu vàng, đây là: Phật Nhựt Tăng Qui, màu vàng mây rán Huỳnh-cang trung bình. Ca-sa lót, lằn nối liền liên phái, Tam-Giáo Liên-Hoa, kết lằn 18 thể như Chánh Phối-Sư, nhơn hòa Thiên-Lý. Số Nhị-cửu tăng tề y trạch. Thẻ áo 15 lớp là: số Tam-ngũ kiền thiền thân phận. Hình dài 81 phân là: thông Bát-Bửu nhứt tri chủ định, gọi lễ y tùng lịnh Thiên-cơ; báu lành vận chuyển huờn Sơ; Đạo thông Đời rõ mầu cơ thiện từ. Tay áo Đại-phục, Thường-phục viền 1 lằn 3 phân, trong 4 lằn 1 phân, ngoài 1 lằn 1 phân, lý gọi Tam-tài trọn Đạo người cư xử, trong Tứ-chơn phương tử tứ qui, 1 ngoài nhứt điểm trí tri, dưới trên Đạo-đức hạnh trì thể thanh; đó chung con trẻ. Khăn Đại-phục, Tam-Thanh, Khăn đen 8 lớp chữ NHỨT, lý kỉnh bát chơn nhứt trí đó.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đặng trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Hình-thức tấm Phướn

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 6 Kỷ-Hợi 1959 (2 giờ khuya.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC sáng dường trăng trẻ ráng nhìn
HOÀNG-đồ độ thế, thế đừng chinh
ĐẠI ân xá tất ngàn muôn Tước
ĐẾ-Khuyết vun bồn Đạo phát minh.

Thầy mừng con trong giờ học tập Đạo-lý hiện hành; vậy chung con Cao-vị, dò lý thanh cao của Cao-vương giáo dục đây chung con hiếu hạnh.

HƯƠNG, con dưng bài cầu Thầy dạy truyền về kiểu mẫu hình-thức tấm Phướn, giờ nầy con định-tâm vưng nghe Thầy dạy đây, đặng chung con học đây hành phận, cho hiệp theo thời xây chuyển đó trẻ.

Phướn nơi Tòa-Thánh: Hình dài chung qui 9 thước, đầu Phướn 7 tấc 2 phân, hình ngang 1 thước 2 tấc, kiểu cách đầu Phướn hình uốn Dương-liễu, kiểu Bầu Tụ-đảnh 4 chữ: ÁNH LỘNG THẦN PHANG. Hoành tròn màu đỏ, chữ màu đen, hoành 18 phân, chữ 12 phân, mặt kiếng trong giữa có Thủy-hào, hoành tròn kiếng nầy 28 phân; mình đầu Phướn màu xanh, bìa viền màu vàng 5 phân; Thỉ-chung nhứt diện nghĩa là: Phướn Thần nêu biểu báo tin, Đạo Trời khai mở Trung-Huỳnh Thiệm-Châu; Độ hồn bảo thể đâu đâu, Con Trời nhìn lý chung bầu Qui-nguyên.

Về mình Phướn tiếp dài cho đủ 9 thước, hình ngang gồm thẻ Phướn 15 tấc, mình Phướn màu xanh, bìa viền màu vàng 5 phân, tròng chữ màu đỏ, chữ đen, hoành chữ 2 tấc 7 phân, chữ 18 phân, 12 chữ: “PHỤNG THỪA NGỌC SẮC, VĨ ĐỨC HÓA NHƠN, ĐỒNG LINH TIN NHỨT“. Thẻ Phướn phân 3 màu Tiên-Thiên Tam-Thanh: đỏ, vàng, xanh. Hình ngang 15 phân, hình dài mỗi thẻ 2 thước 1 tấc, 3 thẻ là 6 thước 3 tấc, đuôi Phướn phân 3 lá đỏ, vàng, xanh; Tả sắp trước theo Tiên-Thiên Khí-vận; thẻ nầy mỗi lá hình ngang 2 tấc 7 phân, hình dài 5 tấc 4 phân, thẻ nầy đỏ tuội vàng, vàng tuội xanh, xanh tuội đỏ, hai bề đồng mặt, gọi thỉ-chung thường-thức chiếu; nghĩa là: Trời lâm phàm độ thế, Thiên-sứ là Ngũ-giáo báo tin, con Trời toan phụng thừa Ngọc-sắc lịnh mạng vưng tuân, đồng Vĩ-đức Hóa-nhơn, rặt ròng nhìn một Linh-điểm muôn tia, nay gặp Trời che êm ấm, thanh thanh Phướn phất, gọi Tam-bửu Qui-nguyên, chữ màu đen là Nho-Tông nền móng.

Về Phướn mỗi Thánh-Thất đồng y vậy, màu sắc châu toàn, bề dài 6 thước 3 tấc, bề ngang mình Phướn 9 tấc, thẻ hình ngang 12 phân 5 ly, hình dài mỗi thẻ 18 tấc, 3 thẻ là 5 thước 4 tấc, 3 thẻ nối chót, 2 thẻ hình ngang; hình dài như dưới đây: ngang 21 dài 45 phân, 12 chữ hoành tròn thước tấc y nhau như Phướn nơi Tòa-Thánh, 12 chữ: “PHỤNG THỪA NGỌC SẮC, VĨ ĐỨC HÓA NHƠN, ĐỒNG QUI THIÊN HỘI“. Chữ mình y nhứt.

Kể từ lễ Trung-Thu trưởng lên Phướn nầy thay đổi châu toàn Vận-cơ Kỷ-Hợi, chớ trễ nải sanh mà lỗi phận đó chung con.

Về Ngôi Thần-Quang Thánh-Thủy, lễ Trung-Thu nơi Thánh-Thất, mỗi trẻ thay đổi cho rập khuôn theo Tòa-Thánh đó, vậy mỗi trò vưng tuân thừa hành, lần lần Thầy giải phân cho mỗi vụ.

THI

Khuôn-mẫu Đạo Trời sáng suốt thay
Bớ con dò bước vững an-bài
Cãi chơn Tả-đạo thân tàn mạt
Bại chánh Bàn-môn phải đứng ngoài.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường đặng trong đây mỗi trẻ nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra. Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất học đây hành phận; Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung; phải nêu vào Nhiệm-Luật.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục của Nhi-Đồng

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 7 Kỷ-Hợi 1959 (9 giờ tối.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Sắc Lịnh phê định mẫu-khuôn
HOÀNG-đồ sáng suốt bởi tròn vuông
THƯỢNG lưu Thánh-đức nền Thiên-Quốc
ĐẾ Chủ Càn qui Đất Việt thông.

HIẾM, con nghe Thầy dạy; con vưng lịnh Thầy soạn Đạo-phục của Nhi-Đồng, cùng Đồng-Nhi thơ cấp, vậy con định-tâm vưng tuân nghe Thầy ban lời dạy đây là mẫu-khuôn qui pháp, nhiệm-vụ chỉnh điều đó trẻ.

Đồng-Nhi: Xiêm đồng trắng 5 lá, mỗi lá đồng 3 tấc, gồm lưng 9 tấc là Tam-qui, Ngũ-giái lương tề, Tín Trung qui-nhứt cửu nguyên đề tường. Nhi-Đồng, Đồng-Nhi y thể là: Tân-qui, Tảo-thuận, Tinh-anh; dầu cấp phẩm trỗi đến Khóa-Sanh cũng y thể dụng là Xiêm. Áo rộng tay 5 tấc; Thường, Tiểu, Đại-phục, châu-toàn lễ-dụ, Đơn-phục tay 3 tấc. Ấm-sanh Mão tròn màu trắng, hình cao 18 phân, tiền Mạo đề chữ HIỀN, màu tùy phái, tượng một vòng hình cực ẩn lộ Nhứt tin của chữ Hiền. Bố-tử hình vuông màu trắng, chữ HIỀN màu tùy phái, 12 phân chữ nho, tượng vòng hình cực màu phái phận, chữ màu tùy phái, chữ Yểm-linh-tự 7 phân tùy phái màu, Khóa-Sanh thể y, nhưng tượng thể vòng nhì-nghi, gọi Thái-cực, của Mão cùng Bố-tử. Đến Giám-Sanh là cơ thời vượng tướng, ứng chuyển Hoàng-huy. Xiêm Nhi-Đồng 7 lá, Đồng-Nhi 8 lá, nhưng không có viền, 5 lá 4 tấc, 3 lá 35 phân; Giám-Sanh, Nhi-Đồng 4 lá 4 tấc, 3 lá 35 phân. Mão Đồng-Nhi, Giám-Sanh gọi Nam, tỏ màu tùy phái, kiểu Tú-khôi, Lễ-mạo, đề chữ HIỀN, màu chữ tùy phái, tượng 3 vòng Hư-vô, màu tùy phái, Bố-tử cũng thể, áo rộng tay 5 tấc vai vuông, Nhựt-tăng bình-bát, áo này toàn Lễ-vụ 3 chữ gọi Yểm-linh-tự, theo phái màu, phận; Mão cốt 18 phân, Diềm 18 phân, gọi Tam-thập-lục-thiên, thâu qui thượng sĩ. Lạc-thần-phong dài 45 phân, hình ngang trên 36 ly, dưới 63 ly, gồm lại là: Cửu-quang truyền hoằng Cửu-thể, Gọi Cửu-cửu Đạo thông, khai Thất-thập-nhị Địa sát đó. Từ đây khi Hành-lễ, hay Hành-đạo phải chỉnh đoan Đạo-thể trang hoàng tinh khiết thanh cần niệm tín ngưỡng qui châu toàn lễ trọng, khải trược tẩy trần, lương hòa thuận tiếp đó chung trẻ Nữ Nam lớn nhỏ, khá đinh ninh Ứng-cảm cao siêu, tâm thành Hành-lễ điềm phiêu thiệt tường; tốt tươi thơm nhẹ trầm khêu, hương Trời tiếp dẫn trược đều rã tan. Đây là Lý Thể vén màn, trong trong ngoài trắng bình an Tâm-điền.

THI

Tâm hòa Ý hiệp trẻ điền khuôn
Kêu bớ chung con khá tỉnh tuồng
Nhiệm-Luật bảng đề nền mẫu thuận
Vưng tuân Sứ-dụ đặng tròn vuông.

MƯU, bài nầy đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường gọi Thiên-Thể học qui, Đạo chơn trí mặc, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Nhiệm-Luật lưu hậu lai hy, diệu hành chơn Pháp Lý truyền thiện lương khải giáo đó.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục của Ngũ-Hiệp-Quang

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 (7 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà quý báu bớ nầy con
HOÀNG Đạo minh trưng phận sắt-son
ĐẠI hiệp chung hòa tường vận mạng
ĐẾ huyền Bí-khuyết thống qui trung.

Thầy mừng con HIỆP, giờ nầy học hỏi Đạo-đức đủ đầy gọi rằng: huy hoàng Thiên-Thể; chung trẻ định lòng vưng nghe Thầy dạy Đạo-phục của Ngũ-Hiệp-Quang, để rõ thông khuôn mẫu roi truyền nối hậu.

Về áo Đại-phục, tay 7 tấc. Áo Tiểu-phục, tay 5 tấc, có giải nghĩa rồi. Đồ Đạo Lễ-phục gọi Nhơn-Tào Y Trí Quang, là bộ máy Ngũ-thể vận hành. Trên kế bâu có tượng quả tim màu trắng hình ngang 8 phân, hình dài 12 phân, đóng 4 nút trắng 1 phân đó là Tứ-quí Kiện-sanh, hộ bốn góc tượng tim. Cổ rộng bâu uốn lồi, may trên đó là thọ lịnh Bát-quang Thiên-khí tri thời, dưới đóng 5 nút, 4 nút trắng 3 phân, 1 nút theo màu, là Ngũ-thể hành kim lý vượng, thông Tứ-qui phương tượng điểm màu, 3 phân hình tròn là: Tam-tào thọ làu làu vận chuyển, Ngũ-Hiệp-Quang đốn tiệm thể thanh. Viền tay, cổ áo Đạo Lễ-phục là: ngoài gọi trước 1 lằn 1 phân, trong cách chiếu nhứt chi 1 lằn 1 phân, kề cách chiếu 1 lằn theo phái Cửu-Trùng. Còn thể ai đặng Thầy thâu vào Thiên-Sư, Ngũ-Hiệp, chưa có phẩm Cửu-Trùng thì để trống 1 lằn 1 phân vậy. Trong viền 1 lằn 3 phân đồng qui củ hướng màu nghĩa là: Trước là Thỉ một cơn tri giác, lý thể hành thanh nhứt đạt nhứt tin. Trong 3 phân, Tam-qui vẹn phận ninh bình, trước sau trung lý vẹn gìn vận cơ. Trung duy gọi 1 lằn viền màu phái là: Thọ tước phái kiền thân trỗi lý, Nhứt tâm tồn y ỷ căn cơ. Trong tiếp gọi sau, 1 lằn 1 phân màu hướng là: Thỉ chung như nhứt trọn thờ; Trong ba giảng chấp mầu cơ vẹn tròn; Thỉ là nhứt mạch chung tồn nhứt qui. Xiêm viền theo phẩm Cửu-Trùng-Đài là phẩm tước có giảng giải rồi. Khăn Đại-phục màu tím 9 lớp chữ Nhứt, Ngũ-hành vận chuyển bốn phương, đây là Ngũ-thể níu nương lý mầu. Màu tím là hòa khí. Bố-tử 21 phân, chữ 12 phân đục lủng lồi nét chữ QUANG là: Ngũ-Quang ánh vọi làu làu, chữ màu theo hướng, lý thường gọi phương châm nhằm hướng, sanh Năm-hằng nương vượng năm màu. Chữ Yểm-Quang Linh-Tự, phương nào màu nấy, là tượng thể lý. Chữ có giảng giải rồi. Ngũ-Hiệp không có Ca-sa là thể vận hành y nương Bát-Quái, gọi Thanh y thể giác phục khuôn, là Thánh vị chơn thuần Thần quang là vậy. Khăn Tam-Thanh trọn thờ Tam-Giáo, gọi Tam-Huê ứng Đạo Trung-qui, lớp y khuôn mẫu, để hành Đơn cùng Thường lễ. Đạo Lễ-phục nầy Ngũ-hành lý thể, khuôn mẫu hình kiểu khuôn viên, tựa thể Bát-Quái.

Về Thiên-Sư viền màu tím gọi Tiên-Thiên hòa khí. Ngũ-Hiệp-Quang Hậu-Thiên viền màu phương hướng, là hòa thể gọi thọ Đạo-phục Ngũ-hành lý thể. Cổ áo lằn lớn viền phủ bâu, vai, màu tùy lý thể. Phía tiền trên kề bâu, dưới gọi trôn đồng viền, trải xéo hình thể Kim-qui, gồm chung Tiên Hậu-Thiên gọi lý thể Đạo-phục là: Tam-Tào Thanh-Y Trí-Quang.

Về Nam-Thiên-Xu, Bắc-Thiên-Trục, Nam-Lai-Tín, Bắc-Hiến-Tín, Đạo-phục đồng qui khuôn mẫu lý thể y hành.

Vậy chung mỗi con học lần gìn đây khuôn mẫu roi truyền thể dụng Đạo-đức đó mỗi trẻ.

THI

Mỗi con chung học thể khuôn thành
Đạo-Đức nguyên lưu trí vị thanh
Đạo Dụng, Tướng hành qui-củ lập
Vẹn tròn Thiên-tước nhứt duy danh.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đặng chung phận trong đó nghe chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Về Đạo-Thể Hiến-Tín-Quang, Lai-Tín-Quang

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 8 Mậu-Tuất 1958 - 3 giờ tối)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà châu báu bớ nầy con
HOÀNG-lịnh ban phê rạng rỡ trong
ĐẠI-hội Trung-ương Hiền, Thánh, Phật
ĐẾ triều Đơn Điện Tiên, Thần đồng.

Thầy mừng mỗi con, HIỆP con định-tâm vưng nghe Thầy dạy về Đạo-Thể Hiến-Tín-Quang, Lai-Tín-Quang. Bố-tử tiền chữ LAI, hậu chữ TÍN; Hiến-Tín tiền chữ HIẾN, hậu chữ TÍN. Khuôn viên y qui-củ, vành Lai-Tín màu đen, Hiến-Tín màu đỏ, gọi ký tế lý gọi sau trước tương tề. Lai với Hiến tiền gìn hậu giữ, đồng quang minh trật tự thể nguyên. Chữ 12 phân màu theo chung-thỉ hướng qui, phương cũ, gọi gồm võ-trụ phẩm nghi, Âm Dương vận chuyển là đây; Đây là hai thể đồng qui chung bầu.

Khăn Đại-phục màu tím, Lai-Tín 6 lớp gắn hai chữ THIÊN-CÔNG, gọi là Thiên-Tào thể dụng Thiên-Công, là nhơn viên trí xuân đồng thể thanh. Khăn Tam-Thanh 6 lớp chữ Nhứt y khuôn mẫu là Nam-Tào-Quang Lục-Tinh-Quân dụng thể. Khăn đen y khuôn mẫu. Áo Đại-phục, Tiểu, Thường, Đơn-phục đóng 6 nút 3 phân màu đỏ, gọi Đạo Lễ-phục Lục-Tinh Dương-Chiếu, Xích-Đạo ưng khai khiếu trần ai. Bâu áo đóng 1 nút hình tròn 1 phân màu đỏ, là tượng trưng Dương khí. Đạo y Thường Dụng khuôn mẫu y vậy.

Về Hiến-Tín, Khăn Đại-phục 7 lớp chữ Nhứt, gắn 2 chữ THIÊN-TRỰC. Khăn màu tím chung hòa màu sắc. Khăn Tam-Thanh, Đơn, Thường, Đạo cân cùng khăn màu đen đồng y khuôn mẫu. Áo đóng 7 nút màu đen, nút hình tròn 3 phân là: Tam-tài lý ứng tròn tin; Thể-hành Bắc-Đẩu, Thất-Tinh diệu tường.

Về Ngũ-Hiệp Đạo-y Thường Dụng, gọi Đạo-phục mặc đi hành Đạo, nút khuôn viên y kiểu, bâu đóng 1 nút màu tím 1 phân là: Nhứt phân hòa hiệp ức vạn chung qui.

Về Lai-Tín cùng Hiến-Tín, Xiêm viền Lai-Tín màu đỏ, tỏ màu Dương chiếu; Hiến-Tín màu đen rạng rỡ hậu qui. Chữ Yểm-Thần Linh-Tự, Lai-Tín-Quang màu đỏ nương tiền; Hiến-Tín-Quang màu đen hậu qui, chung thỉ mối giềng đồng thanh.

Về Thẻ áo Đại-phục Ngũ-Hành Thiên-Sư, Ngũ-Hiệp-Quang, thẻ dài 9 tấc, 14 lớp hình ngang, y khuôn mẫu. Số Thập-tứ Cửu-qui Ngũ-chuyển, lý thể hành u hiển giao thông.

Về Nam-Thiên-Xu, Bắc-Thiên-Trục, Lai-Tín-Quang, Hiến-Tín-Quang, thẻ áo Đạo y phục, thẻ dài 9 tấc, 13 lớp hình ngang y đồng khuôn mẫu là: Nam-Tào Bắc-Đẩu điển giăng, hậu tiền soi hản hòa căn, chung thành tỏ rạng viên đăng hiệp hòa. Mười ba trước khải sau hòa; Hiến, Lai là thể một nhà Lý-Khương. Mỗi con nhìn lý giao tương, đồng nhau hòa hiệp nghĩa-phương diệu hành.

Vậy chung mỗi con trẻ dò đây học lý mẫu khuôn đó chung con.

MƯU, bài nầy đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường ngày 14 tháng 8 Mậu-Tuất 1958, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành các Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-phục Đại-Thiên-Phong

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (1 giờ khuya.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà gọi quí tại giồi trau
HOÀNG-lịnh Luật phê rặt một màu
ĐẠI hiệp chơn truyền lưu hậu cố
ĐẾ ân Thiên-tứ hội Nhơn-Đào.

THẠCH, con định-tâm nghe Thầy chấm điểm danh hiền phê lời ban thưởng đây con trẻ. Thầy dạy rõ Đạo-phục Đại-Thiên-Phong, gọi rằng Thể Dụng, Chơn-tướng Đạo-đức đó.

Về Chánh Phối-Sư: Áo Thường, Tiểu, Đại-phục viền tay, cổ áo 1 lằn 3 phân duy chủ, ngoài 1 lằn 1 phân, trong 4 lằn 1 phân, đây là cấp phẩm nhứt tăng nhứt đức, thể nhứt trí đó; 1 lằn 3 phân là: phận Tam-tài trí vụ, chữ mang Đơn-phục, phẩm nào chữ đó; Ca-sa viền 18 lằn có dạy cho Tứ-Bửu rồi. Áo Khai-Dương là Đại-Thiên-Phong hoàn duy Dương-khí đó, đóng 5 nút hình tròn 2 phân chung phận Đại-Thiên-Phong trọn tròn hai lẽ Âm Dương, tánh tâm hòa nhứt nghĩa-phương thường gìn; Năm-hằng bổn phận đinh ninh, Nhơn Nghĩa Lễ Trí Tín in vào lòng.

Về Thẻ áo dài 81 phân, 12 lớp đó là: Thông Cửu-phẩm, tri Tam-lương thể dụng thọ thân là đó.

Về phần Chánh Phối-Sư, Quyền Đầu-Sư thẻ dài 9 tấc, 18 lớp đó là thể Quyền Tam-Thanh, dìu dẫn Nhơn-sanh tri kỳ Đạo phận thể thọ Tam-tài Cửu-châu Nhị-trí đó.

Về Đạo-Lễ Minh-Cân gọi khăn phái nguyên màu, khăn Tam-Thanh. Về Chánh Phối-Sư, 12 lớp chữ Nhứt gọi pháp chánh khai quang vị trí, Thập-nhị tồn Thiên-Lý Phối nguyên; Bố-tử 18 phân hình tròn tượng thể Tam-Quang tùy theo phái, Ngọc-Tinh-Quang, Thái-Nhựt-Quang, Thượng-Nguyệt-Quang, Lý gọi thông Tam-Huyền, Quang, Linh, Năng, Kiện Thiên Tam-Quang, Nhơn hữu Tam-Ngươn, trí thành, Địa trụ Tam-Năng trưởng thành dưỡng ký hóa hoằng thọ qui.

Về Quyền Đầu-Sư, nút áo tượng thể Tam-Thanh, Đạo Minh-Cân, Chơn-Nguyên; khăn Tam-Thanh hình thể đồng Tam-Thanh thể dụ đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường đặng mỗi trẻ học chung, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

-Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể, Dụng Chơn-tướng Phối-Sư

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 9 Mậu-Tuất 1958 (5 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC-sắc điểm ban phẩm cấp minh
HOÀNG-đồ khai dựng cuộc Trung-Huỳnh
ĐẠI-đồng Hoàn-vũ qui chầu Hội
ĐẾ Chủ mẫu khuôn truyền pháp kinh.

THẠCH, con định-tâm vưng nghe Thầy ban dạy về Đạo-Thể, Dụng Chơn-tướng Phối-Sư đây con trẻ.

Phận Phối-Sư, áo viền tay, cổ 1 lằn 3 phân duy chủ, ngoài 1 lằn 1 phân là trí phận, trong 3 lằn 1 phân là cấp vị trí quang, Dụng, Thể đây là trật tự. Thẻ áo 9 lớp hình dài 72 phân gọi là: Phối-Sư thông nhơn trí vụ, chánh thành phối giác hòa lương, Cửu-chuyển, tri thời minh tường Thiên-vận, gọi gồm Cửu-quang tường tri Tứ-Phối, hòa bình Diệu-Huỳnh Tương Hoàng là phận đó. Ca-sa viền 21 lằn Y-bát thông truyền thể tịch.

Về Giáo-Sư; áo Thường, Tiểu, Đại-phục viền 1 lằn 3 phân duy chủ, ngoài 1 lằn 1 phân là trí phận, trong 2 lằn 1 phân, đây là cấp vị trưởng tăng nhứt trí thành chơn thể dụng; thẻ áo 6 lớp hình dài 63 phân là: gồm số Cửu chánh chơn Thiên-sứ, Đại-Thiên-Phong Hà-thử minh quang; Ca-sa 24 lằn viền, dùng Oai, Luật Bát-y tỏ lý, gọi Phược-thằng ròng trí hữu thân.

Về Bố-tử Phối-Sư hình tròn 18 phân để liền Nhựt, Tinh, Nguyệt gọi ánh sáng lý đồng qui, Tề Huyền Linh-Quang, phối Thiên hiệp Địa là đó.

Về Giáo-Sư, Bố-tử hình tròn 18 phân, để liền chữ theo phái Ngọc, Thái, Thượng là Giáo trí Tập chơn huờn Đạo là đó, chung quanh đề 6 chữ: ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, chữ Nho; đó là tôn nghiêm tâm trí; Đại-Thiên-Phong đồng y khuôn mẫu; 6 chữ nầy nối tròn như tâm vậy; ngoài chữ vẽ 3 lằn nhỏ, nhứt chiếu cách hào, chữ hay là Thể, nơi trung tâm 12 phân gọi tâm tồn tối thượng thừa quang đó trẻ; Nhứt-Tâm Qui-Hướng Tâm-Chủ Linh-Quang Huyền-Cực đó.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường đặng trong đó nghe chung, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra, nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng)

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Thiên-thể Thượng-hội

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 13 tháng 10 Kỷ-Hợi 1959 (3 giờ khuya)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC thanh ánh chiếu phá mù mê
HOÀNG Lịnh lập trần tạo Thánh quê
ĐẠI hội Tân-dân Minh-đức rạng
ĐẾ Huyền diệu khí Thượng-nguơn đề.

Thầy các con, mỗi con hiện giờ định-tâm vưng nghe Thầy ban lời dạy bảo, đồng con trẻ khá vưng tuân, đặng phương-trương trên nền Đạo-pháp, gọi điều chỉnh cảnh cuộc vận hành, đem lại Tân-dân là Thượng-Nguơn tái dựng, sáng suốt Tam-tài từ nay Chơn-thần Thánh-dụ, vì lệ tục từ lâu, ngày 15 tháng 10 là ngày lễ Hạ-Nguơn kiệt thủy, cũng là: Nhưng! đến đây thời sang thanh khí, vận chuyển thanh cầu tụ vật luân huờn bổn thỉ.

Kể từ đây về sau ngày nầy là ngày Đàn thường, đặt tuần bình điểm Nhựt Nguyệt lưu, Thái-ứng vận sang cho đời trí vụ, lần đây Thầy khai lập thanh Đàn của Tam-Nguơn đoán vụ, mừng chung con vẹn chí thừa hành cần thanh sứ vụ, Đạo-mầu vui vẻ phỉ nguyện nối liền an đó chung con.

THI

Vui thay Thánh-đức hỡi nầy con
Tái dựng Thượng-Nguơn Đạo-đức thông
Tam-pháp huy hoàng toan cổi tục
Trung-Thiên Sơ-hội cả xuân đồng.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ học của Thiên-thể Thượng-hội đặng trong đó nghe chung, diệu hành sứ-mạng, rồi giao lại cho Chưởng-quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật,

Thiên-sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể Thời-Quân

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 - 6 giờ sáng)

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC Châu chiếu rọi sáng muôn từng
HOÀNG Thượng giáng lâm tế cảnh xuân
ĐẠI-Đạo hóa hoằng truyền lý diệu
ĐẾ quyền chỉnh sử hậu cơ tuần.

Thầy mừng chung lớp học Thiên-Phong-Đường. Giờ nầy HƯƠNG, con định-tâm vưng nghe Thầy ban lời giáo dục Đạo-Thể Thời-Quân đây con trẻ.

Áo Thường, Tiểu, Đại-phục kiểu mẫu còn y, Mão đổi lại là Kim-Khôi Thời-Thủ, Mão nòng trong hình Bát-quái, cao 18 phân màu vàng nguyên sắc. Trên nóc Mão tạo lên hình khôi cao 18 phân, hình Tứ-tượng, cốt kề nỗng liền vát đến trên còn 3 phân; trên chót tạo một bàn trứ quang hình tam giác Kiêm-Chuyên, trên nóc nhọn, nơi trứ quang ráp với Khôi-Mạo, có lót 3 lá (Kiêm-Thự), mỗi lá Tam-Thanh màu, sắp Tiên-Thiên, sắp dùng phân 3 ngọn, ngang mỗi lá, hình ngang 3 phân, dài 5 phân; Ngạch Mão toàn màu vàng, uốn nguyệt cao 21 phân, chót nguyệt trên gắn hình Nhãn-Tâm màu đỏ, tiền hậu từng hai gắn chữ thể: tiền chữ NGỌ, hậu chữ CHI màu đỏ; còn từng sau gọi dưới, tiền gắn chữ QUÂN, hậu gắn chữ THỜI. Về Hoa-Nguyệt Lương-Trùng hay là Kim-Tuyến, nhưng tạo may trước là trọn nghĩa; Lạc-Thần-Phong trên 36 ly, dưới 63 ly hình ngang, dài 9 tấc đồng màu vàng; dây buộc Mão mỗi bên dài 4 tấc, bề ngang 3 phân, không có Ca-sa, vì mất phẩm vị Cửu-Trùng-Đài nên mang giáp gọi Tín-giáp; Giáp nầy 4 manh dài, 2 manh vắn, lợp trên của vai, 4 manh dài mỗi manh là 63 phân, hình ngang 45 phân, bề dài ra đến 45 phân, uốn bầu co thắt mỗi bên 1 tấc, eo cũng 1 tấc, rồi nở ra đồng y vậy, trên vai có 2 manh vắn lợp trên manh dài hình quả tâm, ngang hình 36 phân, dài 39 phân; Giáp nầy mình trong màu trắng, ngoài bìa có viền 4 lằn đỏ, vàng, đen, xanh; chung qui Giáp đồng viền mỗi lằn 5 phân, hữu cách Nhứt chiếu, thể như chi Ngọ; Nơi tâm Giáp, tiền tạo chữ NGỌ màu đỏ, hậu tạo chữ CHI màu đỏ. Tý; tiền tạo chữ TÝ màu đen, hậu tạo chữ CHI màu đen; Mẹo, tiền tạo chữ MẸO màu xanh, hậu tạo chữ CHI màu xanh; Dậu, tiền tạp chữ DẬU màu trắng lót vàng, hậu tạo chữ CHI màu trắng lót vàng; Chi Mùi, tiền tạo chữ MÙI màu đỏ, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Chi Thân, tiền chữ THÂN màu Huỳnh-Bạch, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Chi-Tuất, tiền tạo chữ TUẤT màu xám tro gọi Bạch-tuyết, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Hợi, tiền chữ HỢI màu đen, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Sửu, tiền chữ SỬU màu đen, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Dần, tiền tạo chữ Dần màu xanh, hậu tạo chữ CHI màu vàng; Thìn, tiền tạo chữ THÌN màu xanh, hậu tạo chữ CHI màu vàng ; Tỵ, tiền tạo chữ TỴ màu đỏ, hậu tạo chữ CHI màu đỏ; chữ nầy đồng 12 phân. Sắm Xiêm thước tấc y khuôn mẫu nguyên sắc màu vàng, không viền. Khăn Tam-Thanh gắn 2 chữ Nho tròn 3 phân, là thể Chi vậy, mình trong lót trắng gọi nền trắng 4 phân. Khăn Đại-phục lớp y phận Thời-Quân toàn màu vàng, cũng gắn 2 chữ tùy Chi, tùy màu y mẫu, do có Chi-Dậu gắn chữ trắng, mình vàng; mỗi phận phải sắm dây Ngọc-Sắc Tam-Thanh Tiên-Thiên ứng, hình ngang 18 phân tề tuyên phủ dương cang hình dài 18 tấc để hành-lễ Thường, Tiểu, Đại-lễ như vầy: Thường-phục hành Thường-lễ, đội khăn Tam-Thanh, áo viền 1 lằn vàng 1 tấc, tay cùng cổ áo không mang giáp, kkông choàng Ngọc-sắc; Tiểu-phục mặc áo tay rộng 7 tấc, viền 1 lằn vàng 1 tấc, thọ Ngọc-sắc Càn Khôn, đội khăn Huỳnh-Cân Quân-Tín; Đại-phục hành Đại-lễ, đội khăn Quân-Tín cân, mang giáp, thọ Ngọc-sắc; Đại-Thiên-phục đội Kim-Khôi vì Thập-Nhị Thời-Quân là Thiên-Công Vương-Sứ cõi Thiên-La lâm hạ nên thể hành Thiên-cơ, thời vụ đức hóa vận hành là đó.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Thể của Ngũ-Bộ Công-Thần, cùng Tả-Ban Hữu-Bậc

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 14 tháng 10 Mậu-Tuất 1958 (8 giờ sáng.

-------o0o-------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC ngà châu báu bớ nầy con
HOÀNG-lịnh đã phê trẻ bảo tồn
ĐẠI-lực Đại-hùng qua bỉ ngạn
ĐẾ ân giáo pháp lý tinh thần.

Thầy mừng chung lớp học định-tâm vưng nghe Thầy ban lời giáo dục tỏ rõ Đạo-Thể của Ngũ-Bộ Công-Thần, cùng Tả-Ban Hữu-Bậc cho tỏ tường. Về Trung Địa-Sát Công-Thần, Nam Hỏa-Sát Công-Thần, Đông Mộc-Sát Công-Thần, Tây Bạch-Sát Công-Thần, Bắc là Hắc-Sát Công-Thần, Nam-Tào là Tiền-Sát Công-Thần, Bắc-Trục là Hậu-Sát Công-Thần.

Về Thiên-danh Ngũ-Bộ, khi chấm chọn Thầy sẽ điểm danh.

Về Trung-Quang Địa-Sát: Áo, Khăn Đại, Tiểu, Thường-phục toàn màu vàng, đóng 5 nút trắng 3 phân hình tròn, trên bâu 1 nút 1 phân màu trắng.

Về Nam-Quang Hỏa-Sát-Thần: áo màu đỏ, 5 nút vàng 3 phân, trên bâu 1 nút 1 phân màu vàng.

Về Đông-Quang Mộc-Sát-Thần: áo màu xanh, đóng 5 nút màu đỏ 3 phân hình tròn, trên bâu đóng 1 nút 1 phân màu đỏ.

Về Tây-Kim Sát-Thần: áo toàn màu trắng, áo Khai-Dương, 5 nút màu đen 3 phân hình tròn, trên bâu đóng 1 nút màu đen hình tròn 1 phân.

Bắc-Quang Hắc-Sát-Thần: áo màu đen, đóng 5 nút xanh 3 phân, trên bâu 1 nút 1 phân màu xanh.

Tiền-Sát Công-Thần: áo đỏ, đóng 6 nút đen 3 phân, trên bâu đóng 1 nút 1 phân màu đỏ đồng hình tròn.

Về Hậu-Sát Công-Thần: áo đen, đóng 7 nút màu đỏ, trên bâu đóng 1 nút 1 phân màu đen đồng hình tròn.

Xiêm: phương nào màu nấy, viền 1 lằn 5 phân hình xuôi, ngang đồng mẫu, viền như vầy: vàng viền trắng, trắng viền đen, đen viền xanh, xanh viền đỏ, đỏ viền vàng. Tiền, Hậu Công-Thần: đen viền đỏ, đỏ viền đen.

Khăn Đại-phục 9 lớp chữ Nhơn màu tím; khăn Tam-Thanh Thường-phục, khăn đen thường hành cũng đồng 9 lớp chữ Nhơn; áo viền tay tùy cấp Cửu-Trùng-Đài; Ấm-Sanh 1 lằn l ly, viền tương sanh như nút áo vậy; Khóa-Sanh 2 lằn; Giám-Sanh 3 lằn; Đạo-Hữu, Đồng-Nhi để trơn; về Lễ-Sanh cũng viền tương sanh 1 lằn 1 phân (không lằn chủ cấp), trưởng lên mỗi phận 1 lằn, cổ áo không viền; sắm Bố-tử hình tròn 18 phân, hình chữ 12 phân phương nào màu đó, chữ Thần màu đỏ tương sanh như nút áo vậy, sắm Bố-tử mình để liền (thể) Trung-Ương. Thổ-Sát Công-Thần ngũ bộ, Thủy-Sát Công-Thần ngũ bộ, Hỏa-Sát Công-Thần ngũ bộ, Mộc-Sát Công-Thần ngũ bộ, Kim-Sát Công-Thần ngũ bộ, Tiền-Sát Công-Thần xích chiếu, Hậu-Sát Công-Thần hắc cố, Mang-Giáp bốn manh, Trung mang giáp trắng, Tây mang giáp đen, Bắc mang giáp xanh, Đông mang giáp đỏ, Nam mang giáp vàng. Giáp nầy hình dài 63 phân, hình ngang 45 phân, uốn nguyệt tượng hậu tâm, chung quang bìa giáp viền 1 lằn tím; sắm dây Câu-phược gọi Ngọc-đái, năm màu Ngũ-hành hình ngang lớn 12 phân, dài 12 tấc. Tiền, Hậu Thần Sát mang giáp Tam-Thanh, trong vàng kề xanh, ngoài gọi trước đỏ, sắm Ngũ-sắc Kỳ: đỏ, vàng, xanh, đen, trắng; Thần nào phò Lịnh-kỳ đó để hành-lễ Thường-nhựt hoặc Đàn Lễ nơi Tòa-Thánh; Đạo Lịnh kỳ nầy hình ngang 3 tấc, hình dài 6 tấc xéo vót ép lề 1 bên. Còn Tiền, Hậu Công-Thần Đạo Lịnh kỳ gồm 5 màu đỏ, vàng, trắng, đen, xanh trong chánh tim có tạo nét Chí-Công, Chí-Chánh 5 phân 2 tấc màu tím, cán Lịnh-kỳ 6 tấc đồng, sơn đỏ. Công-Thần 7 phận đồng gắn chữ vào khăn Đại, Tiểu Thường-phục Lôi-Thần.

Về Mão gọi Từ-Lư-Mão (Chánh-trực Thần-quan) dài dẹp; Tiền, Hậu trên 36 phân, dưới vừa đội cao 54 phân, tượng Ngũ-đảnh, phân đồng màu tím, ngạch vàng, gắn tiền đảnh Nhãn-Tâm, nơi ngạch tiền gắn Thần, hậu gắn Lôi, chữ tùy phương hướng một khuôn mẫu, ngạch 5 phân về cạnh, nguyệt ngạch chánh tim 12 phân, 7 Lôi-Thần hành-lễ phò thể Ngũ-hành Thiên-Sư cùng Nam-Tào, Bắc-Đẩu.

MƯU, bài nầy con đọc sau giờ Đạo-Tràng Thiên-Phong-Đường đặng trong đó nghe chung, lần lần Thầy giảng giải nghĩa lý trong đó từng phần, rồi giao lại Chưởng-Quản in ra nêu vào Nhiệm-Luật học lý diệu-hành tròn sứ lịnh ban truyền.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Chiếu-Linh Cao-Triều-Hưng

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 28 tháng 8 Đinh-Dậu 1957 (10 giờ sáng)

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ BAN PHÊ ĐẠO-PHỤC

THI

NGỌC-sắc chấm con gánh Đạo Trời
HOÀNG-đồ trọn phận chớ lòng lơi
ĐẠI-ân thâu dụng nhơn hiền ngõ
ĐẾ điện lâm triều đáo Thánh nơi
BAN tước Giáo-Tông cầm mối chánh
PHÊ gia Sắc-tứ đắc kỳ thời
ĐẠO qui Nhứt-thống Cao-Đài hiệu
PHỤC nhứt cội nguồn Đức Hạnh thời.

Cao-Triều-Hưng con trẻ, hiện nay con đắc lịnh Thiên-Đình, thâu ban phẩm-vị, con định-tâm nhìn lý, ra gánh vác Đạo Trời, chung hiệp đệ huynh, dựng gầy mối chánh, đem nguồn chơn giác thế tế độ phàm-gian nhìn Trời, nhìn lý nhìn luật, tu thân tích đức, thới thanh Đời Đạo, trọn vậy là: Thượng-nguơn Đại-thành an lý đó con. Hiện giờ con định-tâm Thầy ban lời dạy chỉ, cho con sắm sang Y-Thường, Quan-Điện, Đạo-phục đây con:

Con sắm một chiếc Áo Đại-phục rộng tay 7 tấc, gọi Thi-Tế Tâm-Như; tay áo, cổ áo viền một lằn đen 3 phân, gọi Tánh-Tông Tam-Kiện, 9 lằn Tam-Thanh 1 phân, trước 3 lằn đỏ, 3 xanh, 3 vàng, gọi Tam-giáo Qui-nguyên, Khải-thông Tam-bửu, hộ kỳ Tam-hồn.

Sắm một chiếc Xiêm 8 lá, gọi thể Tam-cang, giữ chặt Ngũ-thường thọ thân, 5 lá 3 tấc rưỡi bề ngang, viền một lằn đen, viền hình dọc 3 phân, trôn 5 phân, 3 lá để trắng kết trong, bề ngang 3 tấc, kết chung là 12 tấc, dây cột chung lại 12 tấc.

Con sắm một chiếc “Điện-Y Dương-Liễu“ để đắp khi hành Đại-lễ gọi Đại-Thiên-phục, cùng Đại-phục; Điện nầy thế cho Ca-sa. Điện-Y thể như vầy: màu vàng, chữ đỏ, viền xanh, 72 lá kết liền, tiền 36 lá, hậu 36 lá, mỗi lá bề ngang 3 phân, bề dài 5 phân; tiền thêu chữ GIÁO, hậu thêu chữ TÔNG, đồng chữ Nho kết bề dạo 5 lớp, gọi Khải-thông Tam-thập-lục Thiên, kết lý do tâm Tam-thập-lục là Thánh, thọ chơn giác thế gọi: Thất-thập-nhị Địa Chi, huệ lý đủ Bát-bửu, Ngũ-chơn, Nhứt phân Ức-vạn Huyền-quang, sanh hóa thành chơn, trực chánh.

Con sắm một Đạo-Khôi Giáo-Tông Thần-Mục, kiểu như vầy: Khôi bề cao khuôn 5 tấc rưỡi, 5 từng, hình Bát-Quái; Mảo ngạch màu đỏ, ngạch ngoài chánh tim 12 phân, tiền và hậu chung quanh một tấc bề cao, 4 ngạch trong tùy theo nhỏ, thấp hơn, cùng chấm 4 cặp Phụng; còn ngạch ngoài, tiền đề cung Càn trên, dưới hai chữ “QUYỀN-GIÁO“, hậu trên đề cung Khôn, dưới hai chữ “TÔNG-TRUYỀN“, tiền hậu đồng đề một hàng chữ như vầy: “Phụng Hành Thiên Mạng Dĩ Đức Hóa Nhơn“, chữ Nho màu vàng. Thẻ Mảo màu vàng 5 từng bề cao, mỗi từng 14 phân, một từng 16 phân, chót thẻ hình bầu nhọn, có chấm Nhãn-Tâm màu đỏ trên, mỗi từng đề chữ dưới Nhãn-Tâm như vầy, chữ Nho, một thẻ một chữ từng ngoài gọi trước hết đề: Nguơn Hanh Lợi Trinh Khiêm Cung Hạnh Nhượng; từng hai kế đề Trung Tín Hiếu Đễ Lễ Nghĩa Liêm Sỉ; từng ba kế đề Từ Bi Bác Ái Nhơn Thứ Công Bình; từng bốn kế đề Chơn Chánh Đạo Đức Quang Minh Trí Huệ; từng năm kế đề Nhựt Nguyệt Huy Xuân Thần Khí Tinh Thu. Hai lịnh Thẻ: Tường-Quang Chiếu Cảnh; kiểu như đây: bên tả 12 chữ Nho như vầy: "Đại Đạo Qui Nguyên Giáo Lý Truyền Chơn Càn Khôn Chúa Tể"; bên hữu 12 chữ Nho: "Cao Đài Thống Nhứt Tông Minh Hóa Đức Tế Độ Linh Căn"; thẻ nầy bằng vải, dài 9 tấc, ngang 4 phân trên, 8 phân dưới, Tam-Thanh. Lạc-Thần-Phong màu vàng 12 tấc, trên 3 phân, dưới 6 phân. Về Đạo-Khôi tượng trưng Thể Lý Tịch-Địa Khai-Thiên, Tam-Thiên Chơn-Bửu Đạo-Đức đồng qui.

Con sắm một chiếc Áo Đơn-phục, tay rộng 5 tấc, gắn đủ 8 cung Bát-Quái Tiên-Thiên Sơ Lý, thể như vầy: tiền là Nam cung Càn màu đỏ; hậu Bắc cung Khôn màu đen; Đông tả cung Ly màu xanh; Tây hữu cung Khảm Huỳnh-Bạch; Đông-Nam cung Tốn màu vàng; Tây-Nam cung Đoài màu vàng; Đông-Bắc cung Cấn màu vàng; Tây-Bắc cung Chấn màu vàng. Tám Cung nầy gắn phân đồng ngang nhau ngay lượng Tinh của thân-xác đó. Sắm một chiếc Áo Chẹt để mặc hằng giờ phút gọi Đạo gốc chí-thiền bất lỵ tu-du.

Áo Đơn-phục, Áo-chẹt, Áo Đại-phục, Tiểu-phục hay Đại-Thiên-phục khuôn-mẫu in nhau, nhưng Áo Đơn-phục, Áo-chẹt không có viền, đồng Khai-Dương, mỗi Chiếc Áo đồng đóng 9 nút hình tròn, màu Tam-Thanh, trên 3 nút đỏ, kế 3 xanh, kế 3 vàng chung là 9 nút, mỗi chiếc áo trên bâu đóng một nút một phân màu đỏ hình tròn, gọi Tam-Cửu Tam-Tam Tam-Thập-Lục, ấy là: Đạo trong mình Tam-Giáo đồng qui, áo nầy đồng mở trôn đinh lên 3 tấc, trôn áo Đại-phục viền một lằn 3 phân màu vàng, viền đụng lằn đinh mở; áo Đơn-phục, Áo-chẹt không viền trôn đinh.

Con sắm một vuông khăn 9 lớp chữ Nhơn màu trắng, thêu 8 chữ Nho màu đỏ "Phụng Hành Thiên Mạng Dĩ Đức Hóa Nhơn", trên nóc khăn thêu một hình Bát-Quái Tiên-Thiên màu đỏ; con sắm một vuông khăn Tam-Thanh 9 lớp chữ Nhơn để đội Hành-lễ hay Đơn-lễ, Đơn-phục.

Còn Bát-Bửu Đạo-Cân, Áo viền, Xiêm là Thường-phục; Bát-Bửu Cân, Áo viền, Xiêm, Điện-Y Dương-Liễu, Bố-Tử là Đại-phục; Bát-Bửu Cân, Áo viền, Xiêm, Bố-Tử là Tiểu-phục; Áo viền, Xiêm, Điện-Y Dương-Liểu, Bố-Tử, đội Mảo là Đại-Thiên-phục.

Con sắm một vuông khăn đen 9 lớp chữ Nhơn để đội Hành-Đạo, hằng vậy.

Con sắm hai Bố-Tử, tiền chữ GIÁO, hậu chữ TÔNG hình tròn 21 phân, màu trắng, chữ 18 phân màu đen, đục lủng ngoài vành Bố-Tử vẽ 3 lằn đỏ, mỗi lằn 5 ly, đây là vẹn lý mừng con vưng mạng thọ kỳ, lần lần đến đâu Thầy dạy cho đến đó, mừng con vưng mạng xuân sanh Đạo-Đức hiện đây.

THI

Hiện đây Đại-Đạo hiệu Cao-Đài
Rõ đó Tam-Kỳ Thống-Nhứt ngay
Tam-Giáo Qui-Nguyên Trời cội Đức
Ngũ-Chi hiệp thuận phỉ nguyền thay
Chiếu-Linh con hỡi về Trung Địa
Giáo-Lý Hưng-Tông vẹn mặt mày
Tứ-Thánh Công-Đồng Trời Sắc-Tứ
Bớ con xuôi-vận chỉnh ngày mai.

MƯU, bài nầy con định đến nhà của Chiếu-Linh Cao-Triều-Hưng, khi Hưng vưng lịnh rồi, con đem bài nầy đọc cho nghe, đặng Hưng sắm đồ đạc, Y, Quan, Điện, Thể kịp ngày 21-22 tháng 9 Đinh-Dậu 1957, về tại Trung-Ương Thánh-Cuộc Đồ-Thiên, Bái-mạng triều Lý, giúp Trời Hành-Đạo kịp thời Đạo Trời Cứu-Thế đó mỗi con, đọc rồi con giao lại cho Chưởng-Quản trong giờ đó, in ra trao cho Quyền Giáo-Tông một bổn, đồng Chuẩn-Y Sắc-Lịnh.

Bài nầy Hiệp-Phong-Đài lưu hành Tam-Giang, Đạo Đời xem mà xét lý tu thân đó mỗi con.

-Thăng-

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

Đạo-Tràng Thượng-Học lớp Thiên-Phong

VÔ-VI DIỆU-LÝ KHẢI-THÔNG
Ngày 12 tháng 11 Kỷ-Hợi 1959 (1 giờ tối.

---------o0o---------

NGỌC-HOÀNG ĐẠI-ĐẾ Giáng-Đàn.

THI

NGỌC lành quí giá bớ trò Ta
HOÀNG Lịnh phán phê cân lượng đa
ĐẠI-hội Công-đồng ròng nghĩa tín
ĐẾ ân chỉ dụ đó con mà.

Thầy mừng mỗi con Thiên-thể của Hội-Thánh, thế thay cho Thầy phổ hóa lời lành, đây con trẻ hiện giờ đến mục đích Đạo-đức giác tha độ đời hướng thiện, đem lại trên võ-trụ nầy nhìn một mến thương; tránh xa chỗ éo le xô xát lấn tranh ác ẩn đa mầm, vậy mỗi trò kề vai gánh Đạo, hưởng đặc ân của Thiên-lý, Trời gia thọ Sắc sứ phẩm danh, phải cần năng diệu biến thông suốt lẽ sự Ninh-bình, giữ chí hòa đồng, thay Trời độ tận muôn-sanh buổi thời Đại-xá. Vậy mỗi trẻ phải năng hành, phải gia công đề cao Đạo, Lý, Pháp ý thức giáo sanh hoàn lương mỹ, nhiệm vụ của một Thiên-thể thay Trời biết bao Sắc tứ Hồng-quang, đủ đầy Phước Lộc có đâu so sánh với ân huệ tối cao thanh giá, mừng mỗi trẻ cần biết cho mỗi trẻ là hướng trước khai đồ; hấp dẫn giáo lương, phải phương-trương gương mẫu, Tinh-anh xuất chúng phi phàm, phải vĩnh bảo nhẫn hòa kiên chánh, phải đặt lối Hạnh-đức Nghĩa-nhơn, phải vị tha vô-kỷ, phải tri trí đắc thành, phải bảo sanh hoàn trí đức, phải nhìn quyết nhứt điểm đồng linh, phải bình hòa tâm tánh, xử trí lý sự phải chí công vô tư, phải tường lối lề hư thiệt, phải giải quyết hoặc gia công cởi mở chỗ lao lụy bẫy lồng, phải kiêng dè khai đàng hậu hóa, Thầy dặn đây mỗi con ghi dạ, cần thi thật hiển hiện Toàn-Năng, nếu không phải chịu trễ tràng, phải phạm tội cản đàng tu-niệm, khó nêu giá trị vô công; Thầy là Thầy, là Cha, là Trời khắp cả Đại-đồng, chủ Tạo-Hóa cân lường từ đây; Hội Tam-Tòa, Tứ-Giáo hiển hiện của Thiên-điều luật, vì qua thời Đại-xá đây là buổi chọn con hiền, dầu dốt, dầu quê, lọc con hữu tâm kiên vụ chí thành, dầu thấp cao xa gần đà hiếu chí, đặng xây dựng Thiên-Quốc là Nhơn-thánh, Vật-đức, Cảnh-hiền, gồm chung đời thạnh thới thạnh Tái Thỉ Sơ Nguơn, về đại danh Thiên-Giáo đã công đồng phục nhứt Qui-nguyên, con tin thiếu hiền hiếu đâu nên nền Trung-Thiên Tu-Di Tụ-đảnh. Vậy hai chữ Tu-hành, Thầy cậy con Thiên-thể, phải thuyết dụ thực thi, quang huy từ đây cần năng diệu-dụng, trên trường tha ái độ Linh-nguyên do lý luật đó con Thiên-thể. Bớ mỗi trẻ hữu danh, duy duy Thánh-nhứt, ráng đi trước nhìn trên thấy xa hiểu rộng, đặng hướng dẫn em dại, nhằm chỗ thiện-phục, thiền-tâm, lập thể, bảo-nhân, tề-vụ cho rạng rỡ trào lưu tiến hóa. Bớ con trình độ khá, rộng, cao, thiện chí nhứt màu, đề cập Đạo-đức phát minh tín vụ đó.

THI

Tín uy ân đặt phải hài lòng
Thọ lãnh Lịnh Trời khá suốt thông
Phước Lộc duyên xưa nay nối nhịp
Hữu danh, hữu dụng thấu thành công.

MƯU, bài nầy con đọc trước giờ Đạo-Tràng Thượng-Học lớp Thiên-Phong, do Thiên-Thể hằng tâm Hội-Thánh, đọc rồi giao lại Chưởng-Quản in ra ban cho Thiên-Thể mỗi trẻ nhiều bổn gìn đây ban ân cho em dại rõ lý Trời bảo khuyến tu-hành mới rồi thanh cao lý thiệt.

Thiên-Sư lưu hành khắp Thánh-Thất, Trường-Qui, Đạo-Tràng, Đạo học chung.

(Thăng.

NGỌC-CHƠN-QUÂN

******************

CHUNG